Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

HOA PHƯỢNG VÀ GIÀ T.

Viết để đổi với Già T một cái bánh bao
và một chung rượu Phú Lễ.


Già T bán bánh bao. Cái thùng bánh nghi ngút hơi nước thơm phức mùi lá dứa đặt trên chiếc xe đạp lênh khênh. Đạp từ từ chạy lên chạy xuống từ Phú Hưng tới Mỹ Lòng cũng kiếm sống được tàm tạm. Khoảng đường chỉ trên dưới chục cây số nếu không kể những ngỏ vườn nhỏ không đếm xiết. Hai bên đường đầy cây cao bóng mát, xa xa lại có những cây phượng mùa này nở đầy một màu hoa đỏ thắm đến xiêu lòng. Có những khoảng nắng nhưng cũng không nhiều. Khoảng nắng nhất là khoảng qua cầu Chẹt Sậy mà thôi. Nhưng Già T lại thích nhất khoảng đó. Mùa nắng gió chướng thổi lồng lộng ngang sông An Hoá ra vàm Chẹt Sậy, vừa qua cầu là gặp ngay một cái cua quẹo với hàng dừa mát ơi là mát. Còn mùa mưa thì những sợi nước đan trên cầu không khác gì trong bức tranh “Mưa trên cầu Ohashi” của Hiroshige. Bán bánh bao nhưng tánh nghệ sĩ! Chẳng mấy lo bán được ít hay nhiều. Cứ để lửa riu riu hoài bánh có hư hỏng gì đâu mà sợ. Cũng không sợ tốn củi. Con đường này thiếu gì cành cây khô rụng. Lượm thảy vô cái thùng nhỏ bên hông chụm từ từ…

Trái tim của Già T không còn khỏe nữa và đôi khi nó đập chệch choặc. Cũng phải thôi, nó đã chạy bền bỉ lâu rồi, qua nhiều chặng đời buồn rồi, bây giờ có chạy khục khặc chút đỉnh cũng là chuyện thường tình! Ối… cuộc đời là vô thường mà, rốt cuộc cũng tới đó thôi. Tới đâu thì tới! Già T nghĩ vậy nên vẫn “nặng nợ” với chiếc xe bánh bao của mình. Khi nào cảm thấy sắp mệt, nghe trái tim mình “có vẻ sắp rộn rã!” thì Già tấp vô lề đường, dựng chống xe, ngồi xuống vệ đường nhắm mắt lại… thở và nuốt khan một viên thuốc thủ sẳn trong túi!

Hôm nay Già T ngồi nghỉ nhằm ngay khúc đường rất mát. Còn vài cái bánh. Từ nay tới chiều cũng hết thôi mà! Cứ ngồi nghỉ. Bên kia đường có một cậy phượng đẹp quá. Đang mùa hoa, phượng nở đỏ ối. Mấy con ve kêu rền rĩ. Ngồi đây ngắm cây phượng một hồi cũng đáng ! Không biết từ hồi nào người ta gán màu hoa phượng là màu hoa của học trò! Chắc tại hồi xưa mấy trường học hay trồng hoa phượng. Thấy phượng nở là thấy hè về xôn xao! Già lấy “cây củi cái” gõ cộp cộp vô thùng bánh hát vu vơ…

Màu hoa phượng thắm đôi lứa đôi nơi…

Già T cũng từng có mối tình hoa phượng, tình đơn phương mà thôi. Hồi xưa, tại cái máu mê đàn trống ca hát mà con đường học vấn dang dở. Hoa phượng nở đỏ thắm rồi nàng đi lấy chồng! Rồi bị bắt lính, đột ngột thấy mình lăn lộn trong quân trường. Thế là chấm dứt hoa phượng, chấm dứt tango, chấm dứt pasodoble, chấm dứt valse! Thay vào đó là cuộc đời lính tráng lộn xộn hải hùng A Sầu Ái Tử đủ món, bị quăng quật khắp bốn vùng chiến thuật. Rốt cuộc Già bị vô trại cải tạo hết mấy năm. Bây giờ thì rong ruỗi mỗi ngày với xe bánh bao. Già hay tự trào một cách cay đắng theo một bài hát quân hành:

Bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi.
Ngày mai tôi đã … đã đi xa rồi.
Ngày nao non nước hết đao binh,
Giữa đoàn hùng binh có tôi đi … “đầu hàng”
Tứng từng… từng tưng…

Cuộc đời đã có lúc tưởng như ở tận đáy xã hội, bị đẩy ra ngoài lề đường. Đôi lúc sầu đời tự hát cho mình nghe:

Tôi tìm ai té dưới chân vĩa hè
Tôi tìm ai té dưới chân hàng me…

Vậy đó, mỗi biến cố trong cuộc đời mình đều được Già gắn với một câu hát, một bài hát nào đó. Có khi nổi hứng Già còn hát cả bằng một thứ tiếng Pháp điệu nghệ hẳn hoi.

Mal! De la vie me fait mal
De temps en temps
Quand je regarde le soleil
Qui vole
Qui vole...

Mấy đứa nhỏ bu quanh chẳng hiểu gì hết cũng vổ tay bốp bốp hò reo: Man man, ổng man man rồi tụi bây ơi. Già Tuấn cười hiền khô múa múa khúc củi doạ mấy đứa chạy té tát..

***
Buổi chiều già lại chở thùng bánh bao của mình đi qua xóm lò gạch, ghé thăm mộ của con bé P. Đứng tần ngần nhìn nấm đất trong đám cỏ vàng úa. Con bé chẳng bà con họ hàng gì với Già. Già T biết con bé chỉ vì hồi năm nọ nó hay thích bánh bao ngọt. Khi nào Già T đạp xe qua đây má nó cũng kêu mua cái bánh. Con bé rất xinh và lễ phép. Chỉ cái tội nhà nghèo, má nó chẳng bao giờ mua bánh bao thịt cả. Nhưng cái bánh bao ngọt cũng đủ làm con bé vui rồi. Niềm vui trẻ con làm vui lây trái tim buồn đời của Già. Từ bé con bé đã hay cười hăng hắc mỗi khi nghe già gõ cái thùng bánh bắt giọng hát trệu trạo: Cháu lên ba cháu đi mẫu giáo, cô thương cháu dzì cháu hay khóc nhè ..e..è ..è. Già cũng cười hăng hắc…
Rồi tới buổi chiều buồn hiu, già T về ngang tới đây thì không nghe tếng cười của con bé nữa mà thay vào đó là tiếng trống đưa linh ba nhịp một. Phải nói là trên đời này chưa bao giờ có cái thứ nhịp trống nào buồn ghê khiếp như vậy, chưa bao giờ nghe thứ âm nhạc nào xé lòng hơn vậy. Thứ tiết điệu gồm hai tiếng thùng thùng ngắn, hoảng hốt kéo theo sau một cơn rung động dài ra như tiếc nuối khôn nguôi. Tiếc nuối chưa kịp dứt thì điểm một tiếng thùng staccato đành đoạn, tiếng thùng cuối cùng như vổ vào ngực làm nghẹn thở, kịp cho một giọt lệ mặn đắng thấm vào trái tim quắt lại! Thùng thùng… thùng nghe hoang mang cả đất trời. Đó là tiếng vỗ cánh của hư vô, là tiếng vọng cuối cùng khép lại tất cả!
Con bé ra đi khi còn quá nhỏ, chưa kịp lên lớp 11. Người lớn đi tiễn cũng khá nhưng nhiều hơn hết là bạn bè của con bé. Những tà áo dài xếp thành một hàng ven đường theo xe tang. Dẫn dắt theo sau tiếng trống, mỗi áo trắng cầm một cành phượng đỏ màu huyết dụ di chuyển im lặng như trôi đi trong chiều. Già T đứng đó, chìm trong mê lú, những đốm trắng, đốm đỏ lung linh, nhoè đi trong nước mắt. Vậy là từ đây không khi nào già được nghe lại giọng trong veo của con bé: Ông Bảy ơi! Còn bánh bao hông?

***
Trước khi ra về, Già T đặt cái bánh lên đầu mộ. Gió hiu hiu thổi. Không có nhang khói nhưng lá khô xào xạc như bước chân ai. Già khấn lâm râm: Ăn đi con, ông Bảy chừa cho con đó!
Bà T thấy chồng về, trên ghi-đông xe treo lũng lẳng một cành phượng, bèn tròn mắt hỏi luôn: Ông chở mùa hè của ai đi đâu… vậy ông trời! Già T đáp như tự nói cho mình nghe: Tui thấy nó bên đường. để nó rớt bên đường tội nghiệp!

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

THẦY ĐÃ DẠY TÔI NHƯ THẾ NÀO.

.
.
Tôi học sư phạm từ năm 1971 đến tháng 6 năm 1976, nghĩa là rơi đúng vào buổi giao thời nhiều biến động. Vào sư phạm đúng vào lúc chiến trường Quảng Trị diễn ra ác liệt và ra trường vào lúc cuộc “đổi đời” xảy ra cũng ác liệt không kém. Môi trường học đường cũng thay đổi. Nhiều năm tháng thật không dễ để đứng vững trên bục giảng. Có lúc đói đến nỗi đôi mắt không nhìn rõ bảng phấn nữa là! Đôi lúc chán nản, muốn bỏ nghề cho xong, nhưng rồi tôi vẫn còn tiếp tục được nghề nghiệp của mình là nhờ một vị thầy rất đáng kính: Thày Nguyễn Văn Trường. Tôi luôn nhớ về thầy mỗi khi cần một tiếng nói nâng đỡ đâu đó sâu thẳm trong lòng mình. Tôi thường nhớ về thầy so với các thầy cô khác vì hai lẽ: Thứ nhất vì thầy là thầy giáo hướng dẫn lớp tôi, thày dạy tôi môn số học vào năm thứ hai, và thầy cũng là người dẫn tôi đến với bục giảng đúng theo nghĩa đen của từ này. Giờ thực tập đầu tiên của tôi, thầy giới thiệu tôi với lớp 10C trường Võ Trường Toản và ngồi xem tôi giảng bài. Thứ hai, tôi nhớ thầy vì thầy là người mà tôi từng sợ “hết biết”. Môn số học của thầy, sinh viên phải nộp 3 bài tập ở nhà và làm một bài thi cuối học phần. Môn ấy đã khó, nhưng nỗi sợ của tôi không ở chỗ môn ấy khó. Tôi sợ thầy!

***

Bài nộp đầu tiên khi thầy chấm xong và đem phát lại cho sinh viên thì lạ thay chỉ có bài của tôi thầy chẳng chấm điểm mà cũng chẳng có nhận xét. Chờ đến cuối giờ học, tôi mới “khép nép” đem bài làm của mình lên hỏi thầy. Thầy cầm lấy bài làm của tôi, nhìn tôi bằng cái nhìn thân thiện nhưng câu trả lời thì ôn tồn mà hết sức nghiêm khắc: “Thầy đã cho anh bài về nhà làm, anh có khá nhiều thời gian tại sao trong bài làm của anh lại còn những chỗ bôi xóa?” Quả thật trong bài làm của tôi có nhiều chỗ tôi đã lấy thước gạch bỏ đi mấy dòng trong chứng minh. Vậy là bài làm thứ nhất tôi không có điểm nào. Không hiểu sao thầy lại không cho zéro (0)!
Bài nộp thứ hai cũng rơi vào tình trạng như bài thứ nhất mặc dù tôi phải viết đến ba lần bài viết đó để không có một chỗ bôi xóa sửa chữa nào! Cũng mang lên hỏi thầy, lần này câu trả lời là: “Trong chứng minh của anh, tại sao dấu bằng (=) ở dòng trên với dấu bằng ở dòng dưới thụt ra thụt vào vậy? Khi anh đi dạy, học sinh sẽ rất khó theo dõi chứng minh, anh phải tập viết cho ngay ngắn. Tính cách con người thể hiện trong chữ viết đấy!” Trời ơi, lần này thì tôi “phát rét”. Chỉ có ba bài làm mà hai bài tôi đã không có điểm thì kể như tiêu rồi!
Bài nộp thứ ba cũng vậy mặc dù tôi đã cẩn thận viết như in, không có một chỗ bôi xóa nào, các kí hiệu toán học ngay ngắn tăm tắp, chứng minh chặt chẽ tưởng như khó có thể chặt chẽ hơn. Lần này tôi quyết khiếu nại và nếu cần thì tranh luận với thầy về trường hợp của tôi mới được. Nhưng câu trả lời của thầy làm tôi thật sự choáng và… tâm phục khẩu phục: Anh biết không, hồi xưa thầy học với người Pháp, phải viết bằng tiếng Pháp, vì vậy thầy có viết sai chính tả tiếng Việt thì còn có thể hiểu được. Môn học này thầy giảng cho các anh bằng tiếng Việt, thuật ngữ toán học bằng tiếng Việt mà ông Hoàng Xuân Hãn đã khổ công biên soạn. Tại sao trong bài làm của anh còn có chỗ sai chính tả? Thày giáo không có quyền viết sai chính tả tiếng mẹ đẻ của mình. Anh không biết yêu tiếng mẹ đẻ của mình sao? Người nào không biết yêu tiếng mẹ đẻ của mình thì không nên làm thày giáo!
Tôi nghẹn ngào chịu ba lần quở trách của thầy và chắc chắn là mình thi hỏng môn này mất thôi! Hôm công bố điểm thi cuối học phần, thật tình tôi không dám đến xem bảng điểm, tôi chỉ ngồi xa xa dưới bóng cây me tây trong sân trường nhìn các bạn bu quanh bảng điểm mà lòng xấu hổ lắm. Khi các bạn reo lên kết quả đậu 6 sinh viên trong tổng số 21 sinh viên của lớp thì... lòng tôi “tan nát”. Nhưng bạn có biết không, tôi vinh dự là một trong 6 sinh viên đó đấy.
Thầy sống đơn giản, mặc dù lương giáo sư chắc không phải là thấp trong thời buổi đó. Thầy đi dạy bằng chiếc xe đạp cũ kỹ. Thầy mặc một cái áo vải Nil France cũ đến nỗi nó trở thành mỏng te. Có lần tôi bạo gan hỏi thầy: Trong trường giáo sư nào cũng đi xe sang trọng trừ thầy và giáo sư Thiery (!), sao thày không đi xe nào coi cho "phong độ" mà mãi đi chiếc xe đạp cũ rích. Câu trả lời như vầy: "Khi đất nước còn nghèo mà chỉ riêng mình giàu là một cái nhục. Khi mọi người đều giàu mà chỉ riêng mình nghèo cũng là một cái nhục".

***

Thày đã dạy tôi sống và làm nghề dạy học như thế đó!

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

CẢM XÚC CUỐI THÁNG NĂM

.
Người đi để lại lá vàng khô.
Cuối mùa nắng đổ vàng sợi tơ.
Người đi tiếng gió buồn hơn trước. (*)
Nhện bỏ giăng, hồn lưới xác xơ.

***

Mây ở đâu về cuối tháng năm.
Chớp bể mưa nguồn động xa xăm.
Đong đưa lá rũ treo cành mục,
Một chuyến gió lùa bỗng lạnh căm.

***

Người ở phương nao chuyện cuối trời.
Thềm ta vừa ướt giọt mưa bay.
Gót người xa vắng trên thềm vắng,
Chén trà độc ẩm nguội không hay!


26-5-2010



(*) “Người đi dáng núi buồn hơn trước” – Cao Thoại Châu.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

CHIỀU TỐI.


Giữa ngày hè nóng bức. Không biết gió đi đâu hết! Trong nhà nóng hầm hập. Cúp điện hoài! Hôm nay cúp từ sớm bửng tới giờ vẫn chưa có điện lại. Bên dãy nhà trọ nghe tiếng hét của ông tướng nào đó: Trời ơi!.... Điên nặng… điện….Mấy giờ mới có điện lại vậy ta? Lại nghe giọng quạu quọ càu nhàu: Đi mà hỏi ông Nhà đèn… Thắp giùm cây đèn cầy để ăn cơm đi!Trời sụp tối, tiếng muỗi vo ve. Làm như không có điện, không có đèn thì lũ muỗi mở hội vậy. Thôi, ra ngoài sân ngồi cho thoáng! Cũng thắp cây đèn cầy gắn trên cái khu chén để trước mặt. Lấy cây đàn ra. Đàn chưa xong bản Hạ trắng cháy hết cây đèn cầy. Kệ, ngồi đàn trong bóng tối có sao đâu!
Bầu trời trong vắt lốm đốm cả đống sao. Cái sao hôm lấp lánh như tức cười sự điên khùng của con người phụ thuộc vào điện. Không có điện thì không có quạt máy, nóng hầm quá, nổi sùng. Không có điện thì không có đèn không ăn cơm chiều được, nổi sùng.
Không có ai để bày tỏ sự nổi sùng nhưng ngồi mãi trong bóng tối hầm hập cũng bức rức. Định khóa cửa nhà, lấy xe chạy một vòng cho mát. Chạy đi đâu bây giờ!? Thành phố Bến Tre này nhỏ như cái bàn tay, quanh đi quẩn lại có mấy con phố. Chạy hết thành phố trở về chưa chắc đã có điện lại! Hay lại ai chơi? Có ai chờ đợi mình đâu!
Thôi, chạy ra bờ sông hóng gió…
Kè bờ sông dài và đẹp lãng mạn nhưng chỉ lưa thưa mấy người. Kiếm một chỗ xa xa mấy cặp tình nhân để họ khỏi ngại ngùng để dựng xe. Ôm lan can bờ kè ngó vào khoảng tối có mấy chiếc ghe bầu lầm lũi tiếng máy rầm rì… Nước ròng sát và gió cũng lặng thinh, chẳng mát hơn được bao nhiêu. Sông rộng, bờ kè rộng. Con đường bờ sông trước đây còn có xe qua lại phà Hàm Luông, bây giờ có cây cầu Hàm Luông rồi nên vắng ngắt. Đứng lơ ngơ ngó qua bên kia sông, nhìn dãy đèn vàng hui hắt một hồi thấy buồn quá. Thôi về!
Vẫn chưa có điện. Căn nhà tối om. Thắp đèn cầy ăn cơm thôi. Mới ăn được nửa chén cơm suýt bị sặt vì thằng nhỏ bên hàng xóm đi một câu vọng cổ xuống xề ngọt sớt: Trời ơi… giữa tháng này cúp điển .. ư ư ... nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà. Bạn tình chung ơi, đừng hoài công mòn mỏi đợi chờ… ư ư … Con vợ nó cũng không kém:
Đợi .. đợi cái gì, đợi có điện chớ đợi cái gì….
Cây đèn cầy cháy leo lét! Nóng hầm hập!

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

QUÊ CHA ĐẤT TỔ.

.

Ông Hai ngồi trên con đê mơ màng nhìn cánh đồng xanh tít tầm mắt. Con đê chỉ mới có chừng mươi năm nay do máy cạp đất móc sâu lòng con mương đắp lên mà thành. Bây giờ con mương cạn đã trở thành con kinh nhỏ thuận tiện cho ghe thuyền đi lại. Trước đây đoạn mương cạn này chiếc xuồng tam bản còn đi không được. Khi làm mộ bia cho cha thì ông chỉ có thể đi xuồng tới gần cuối xóm Đai’n Tân mà thôi. Đoạn đường còn lại ra tới mộ ông phải vác tấm bia trên vai lội băng đồng. Cái bia đá hoa cương nặng chắc phải tới gần sáu bảy chục kí. Ông ước chừng như vậy vì thấy nó nặng hơn bao xi măng Hà Tiên một chút. Đoạn đường còn lại đó khoảng 500 mét. Hồi cha mất ông chỉ mới 13 tuổi. Tha phương cầu thực khắp nơi, đến ngoài 40 mới về làm mộ bia cho cha được. Ông thấy mừng vì đã làm bia cho mộ cha hồi năm đó, khi sức còn có thể vác cái bia đi xa như vậy trên nền ruộng đất lún lên lún xuống! Giá như bây giờ, nếu không có con kinh thuận tiện thì với cái đầu gối đi mình không có khi còn thấy đau và cái cột sống không còn dẻo dai như xưa thì ông không biết phải làm sao nữa!


Cách mộ cha chỉ nửa cây số là sóc Đai’n Tân của người dân tộc Kh’mer. Người Kh’mer không có mộ. Tục lệ của họ là hỏa táng. Hồi xưa họ thường thiêu người chết ở chỗ gốc cây lâm vồ đâu xa đằng kia. Bây giờ cây lâm vồ đó mất rồi. Khi chưa có con đê này thì ông thường phải băng đồng bằng cách nhắm theo hướng cây lâm vồ đi khoảng hơn một cây số rưỡi thì tới bờ sông, qua sông là tới nhà bà cô Út. Hồi nhỏ ông sợ chỗ cây lâm vồ đó ghê lắm nhất là khi đi ngang còn thấy than cháy sót, tro thì hơi rin rít và có mùi mỡ khét. Giữa đồng không mông quạnh sợ thì sợ nhưng vẫn phải đi qua cây lâm vồ thì mới khỏi bị lạc xa xuống phía Sóc trăng. Ông vẫn hay nghĩ ngợi vì sao người Kh’mer dần dà rời bỏ những vùng đất mà trước kia họ vẫn cư ngụ để thay bằng sự phân bố của người Kinh gần như ở khắp miền nam này. Sự tái phân bố cư dân đó diễn ra chậm chạp và hiền hòa. Dĩ nhiên trong lịch sử cũng có những lần va chạm đẫm máu nhưng nhìn chung là hai dân tộc sống thuận hòa trong suốt phần lớn thời gian. Giải thích điều đó như thế nào? Ông đi đến kết luận rằng nguyên nhân là từ những ngôi mộ kia. Phải rồi, một ngôi mộ không chỉ là nấm đất cất giữ nắm xương tàn. Một ngôi mộ là nơi cất giữ kí ức của đời trước, của cha ông. Thậm chí một ngôi mộ có khi còn là nơi cất giữ kí ức về những tình tự gắn bó một con người với đất với nước, với mảnh ruộng, với bờ kinh, với người còn sống, và nhắc nhở con cháu về ‎ý nghĩa cuộc sống, về cách sống. Khi đó mảnh đất không phải là một bất động sản giá bao nhiêu một mét vuông, được giá thì bán, không được giá thì giữ đó chờ thời cơ để đẩy nó đi. Đất bây giờ có hồn của đất, là thứ đất linh thiêng mà người ta phải chiến đấu – bằng mồ hôi và bằng máu – để giữ đất. Khi cúng mộ lúc nào người ta cũng phải thắp một nén hương cúng đất đai để xin đất đai chấp nhận và gìn giữ nơi an nghỉ của ông bà. Hồi nhỏ ông hay buồn cười khi bà nội nhắc thắp hương để cúng đất đai. Mấy cục đất mà cúng cái nỗi gì! Dần dà thì ông hiểu “Đất Đai” chính là những người đã khai hoang mở đất, những người đã đổ mồ hôi lao động trên đất phèn chua để hôm nay đất được thuần hóa cho mình hạt gạo ngon, trái cây ngọt, những người đã đổ máu chống ngoại xâm để giữ mảnh đất bây giờ trao lại cho mình. Vậy phải thành kính cúng đất đai là phải lắm! Mấy ai dám bán đất mà trên đó đã có phần mộ của ông bà. Nghèo tới nỗi phải bán đất có phần mộ ông bà cha mẹ là một nỗi nhục khó mà gột rửa được!
Nhưng mà … cú sốc tương lai! Cuộc sống bây giờ thay đổi nhiều lắm! Tâm hồn của con người ta cũng thay đổi theo. Xem coi! Người ta bây giờ không lưu luyến nhớ nhung cái gì nữa. Con người hiện đại bây giờ không có khái niệm yêu mến đồ vật, ngoại cảnh! Bây giờ người ta có thể đi khắp nơi một cách dễ dàng. Nhiều nghề nghiệp khiến nhiều người phải di chuyển liên tục. Người ta dễ biết nhiều nơi nhưng người ta không ở đâu đủ lâu để yêu mến mảnh đất ở đó. Nói yêu ở đây là nói gắn bó tâm hồn của mình với nó chớ không chỉ thấy cảnh vật của nó đẹp. Bây giờ hiếm lắm mới thấy trong văn học nghệ thuật dùng hình ảnh “bến cũ con đò xưa”, lâu rồi không thấy “mái nhà xưa”, không thấy “tấm áo mẹ vá năm xưa”, không thấy “con đường tình ta đi”. Mấy chiếc phà to đùng kia ngày một ngày hai còn bị thay bằng những cây cầu hiện đại huống chi cái con đò bé tí xíu. Tiện lợi thì có tiện lợi đấy, đẹp thì có đẹp đấy nhưng chừng nào thì người ta bắt đầu yêu mến và nhớ nhung những cây cầu hiện đại đó ha? Chắc rồi sẽ đến ngày có nhà văn nhà thơ nào đó nhớ nhung cây cầu đó. Chắc mất hơi lâu để có thể nhớ nhung vì đi ngang qua nó chỉ có vài phút, đâu có như ngồi trên phà ngắm sông nước cả nửa giờ đồng hồ để mà bắt đầu thấy hồn mình gắn bó với nó! Nhà cửa thì mọc lên xoành xạch rồi lại giải toả xoành xạch. Nhà cửa sẽ đẹp hơn, sạch sẽ hơn, tiện nghi hơn, nhưng chừng nào người ta mới nhớ mái nhà ở đó có cái cảnh “Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”? Áo quần bây giờ thì rẻ rề, đi ngoài đường bây giờ chẳng có ai bận áo vá cả. Thậm chí nhiều người còn không nhớ được mình có mấy cái áo nữa kia, nhớ gì tấm áo cũ! Còn “con đường tình ta đi” thì… vài ba hôm là thấy một con đường mới mở nắng chan chan. Còn lâu lắm, có khi mất cả trăm năm nữa mới có cái bóng cây cổ thụ che bóng cho đôi tình nhân, hay cần chừng 20 năm nữa để có cây phượng đỏ rực làm đẹp tuổi học trò. Nhớ con đường thế quái nào được! Tụi nhỏ tới tuổi cặp kê, tới tuổi “yêu đương”, tụi nó có người yêu đấy nhưng mà ông chẳng thấy tụi nó nhớ nhung gì ráo. Nhớ nhung cái gì khi đứa nào cũng kè kè cái điện thoại di động cần gì là Alô với nhau! Cái cô Lan trong tuồng cải lương năm xưa sầu tư anh Điệp đi học tuốt trên thành là chuyện "xưa rồi Diễm ơi!".
Sao ông lại nghĩ lan man vơ vẩn vậy? Có gì đâu! Vì sao ông về đây, ngồi trên con đê này, nhìn về chòm mộ kia, nơi bà cố, ông nội và cha của ông yên nghỉ giữa cánh đồng xanh mút mắt? Trước hết là vì ông phải về thăm mộ của ông bà và của cha như một nghĩa vụ và thực hiện lời hứa với ông bác đã gần 90 không lê nổi bước chân nữa. Ông bác sợ sẽ không còn ai về thăm mộ ông bà! Cả dòng họ của ông bây giờ không còn ai ở xứ này. Phiêu bạt hết rồi, chỉ còn vài người bên cô Út (ông bác có nếp nghĩ cũ “nữ sanh ngoại tộc”!). Ông đã hứa với bác khi nào ông còn sống và đôi chân ông còn đi được thì ông sẽ vẫn còn về chăm sóc mộ ông bà. Hôm trước ông đã lên mạng, vào Google Earth để tải một tấm ảnh vệ tinh xác định toạ độ mấy ngôi mộ, định gởi cho mấy đứa cháu. Để con cháu đừng quên mộ ông bà! Gởi đi cái hình thì khó gì, nhấp chuột vài cái là “meo” tới liền thôi, nhưng ông buồn phiền và ngần ngừ. Trên không ảnh mấy ngôi mộ chỉ là những đốm nhỏ vô hồn vậy ở nơi xa kia – cách nửa vòng trái đất - những đứa cháu nói tiếng Việt còn không rành thì cái toạ độ đó, cái đốm nhỏ đó có ý nghĩa gì chứ! Có khi tụi nhỏ chỉ ghé mắt qua rồi… quên luôn!
Những kí ức lưu giữ dưới mấy nấm đất kia, vong linh của những người đã khuất, cái hồn của đất đai rồi đây con cháu của ông có đọc được không? Phải có cái tâm mới đọc được những điều linh thiêng đó. Nhưng muốn có cái tâm thì… phải hỏi cuộc sống đã. Phải ngồi đây, trên con đê này, trong yên lặng nghe gió thổi vi vu qua đồng, nghe tiếng lúa lào xào, bàn chân dính bùn dí trên nền cỏ ướt, để lòng bình lặng, cái tâm sáng ra rồi nhớ lại…