Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

PHẬT PHÁP

...
Meditation 4.

Cái nghề gõ đầu trẻ coi bộ dễ mà khó! Không dễ sao xã hội có một thời truyền tụng câu “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”. Không dễ sao lão đại ca Cao Thoại Châu hồi còn nấn ná trong nghề một hôm thấy học sinh của mình rắp ranh thi vào sư phạm thì lòng có hơi mừng bèn hỏi tại sao em chọn nghề giáo. Em cũng bèn kính cẩn trả lời tôn sư rằng tại vì em học dở quá, chỉ có chọn vào sư phạm và chọn môn văn thì mới có chút hy vọng! Hỡi ơi lão tôn sư khi không bỗng thấy mình như bị ai nhét cái hột cóc chấm muối ớt vô cuống họng. Kể từ đó mỗi khi nhắc tới nghề gõ đầu trẻ là lão đại ca đầu óc lùng bùng ấm ức, viết bằng cái giọng chuối sống ăn với khế xanh! (Việc này tiểu đệ nhớ mang máng là lão đại ca có kể như thế. Nếu không có cũng xin đại ca bỏ quá cho!).
Nhưng nhắc tới chuyện gõ đầu trẻ cũng để lấy cớ mà nói chuyện khác thôi. Cái nghề đó không dễ ở chỗ: Đã làm thầy giáo thì có hai việc không được vi phạm: Đạo đức của nghề thầy và… thầy không được nói sai, nói dóc! Nói học trò không nhớ lời thày giảng, cứ nghe lỗ tai bên này là chạy tọt rơi ra ngoài lỗ tai bên kia như nước đổ lá môn là sai. Học trò tụi nó nhớ lời thầy giảng một cách kinh khủng. Tệ hạ từng gặp một em học trò cũ 30 năm sau nhắc lại vanh vách nguyên văn hồi đó, giờ học đó thầy đã nói cái gì. Thầy nghe em đó nhắc lại chuyện xưa mà dựng cả tóc gáy! Tự nhủ thầm: Mô Phật, không biết hồi đó có khi nào mình nói sai cái gì không!?
Ấy vậy mà khi xem xét lại thì cũng thấy mình có lần đã hùng hồn giảng sai. Mà giảng sai suốt cả hai năm học mới khổ chứ! Việc là một hôm cô Phó Phòng Đào Tạo gọi tệ hạ lên yêu cầu dạy một môn có tên là: Khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Đang khi ngồi lập trình yên ổn lại bị vướng vào nợ oan gia, từ chối như thế nào cũng không được! Cô đưa cho một tờ giấy A4 in chương trình sơ lược của môn đó, đâu được vỏn vẹn có 15 dòng! Hỏi có tài liệu dạy học gì nữa không? Trả lời: Không! Tự anh xây dựng chương trình chi tiết và soạn giáo trình để dạy á! Cho anh 5 tuần để chuẩn bị!
Khổ cái thân! Thế là phải chạy đôn chạy đáo vào mấy cái thư viện. Lại phải chạy lên Sài thành lục lọi tiệm sách lớn, tiệm sách nhỏ các tài liệu có liên quan. Đi hỏi ông Wikipedia xem mấy ngài hàn lâm phân loại khoa học như thế nào. Đọc lại “Biện chứng của Tự nhiên” của ông F. Engel, đọc lại ba cái phạm trù gì gì đó của ông Karl Marx. Ôm kè kè mỗi đêm cuốn sách dày cộp hơn một nghìn trang “Lịch sử văn minh nhân loại” của Caroline F. Ware, v.v. và v.v.. Tiêu hoá vội vàng một khối lượng kiến thức đồ sộ để… ói ra!
Nói chung sau hai năm học dạy môn đó thì thấy cũng được, không thấy ai than phiền điều gì, sinh viên ra trường yên ổn cả. Phòng Đào Tạo chẳng có ý kiến gì (biết gì đâu mà ý kiến!). Cớ sự ở chỗ để bắt đầu môn học đó thì phải định nghĩa trước hết “văn minh” là cái gì vậy. Ừa, thì cho có vẻ tây tàu một chút văn minh tức là civilisation, văn hoá tức là culture, là là… Mở từ điển tiếng Việt ra xem thế nào. Mở từ điển Larousse coi anh Tây ảnh nói làm sao. Cứ thế mà yên chí!
Ba bốn năm sau, có một dịp gặp lại Tổ sư. Tổ sư đây là thầy Nguyễn Đăng Phu, là thầy dạy của tệ hạ ngày xưa, là người mà tệ hạ vô cùng kính trọng. Thầy hỏi tệ hạ đã dạy cái gì vậy. Tệ hạ thiệt tình nói đã dạy như thế như thế… Thầy yên lặng một lúc mới hỏi vậy chớ tệ hạ hiểu chữ “văn” có nghĩa là gì không? Thưa thầy, quả thực con cũng chưa rõ! Thầy ôn tồn giảng cho hai tiếng đồng hồ chỉ có mỗi một chữ “văn”. Thầy thì ôn tồn mà trò thì nghe như sấm nổ bên tai, choáng váng vì hoá ra mình đã nói sai với đám sinh viên tất tần tật. Hoá ra cái chuyện đứt mạch văn hoá nó nghiêm trọng quá chừng, nó ăn sâu vào cái cách mà mình suy nghĩ. Vấn đề không phải là mình suy nghĩ về cái gì mà là cách mình suy nghĩ về vấn đề đó. Hoá ra bây giờ mình suy nghĩ theo cái đầu của phương tây chớ không phải theo cái tâm mà ông bà đã ban tặng cho mình. Hoá ra văn minh thì không phải là civilisation!
Nhưng (lại chữ nhưng) phản bổn hoàn nguyên là chuyện cực kì khó khăn! Cái hồi ta rần rần mừng rỡ vứt bút lông đi lấy bút chì, cái hồi ta thầm cảm ơn ông Alexandre de Rhode và đức cha Pigneau de Béhaine đã xây dựng chữ “quốc ngữ” giúp dân ta có thể nhanh chóng biết đọc, biết viết tiếng Việt, chứ không như cái anh China khổ sở học tiếng China cả đời chưa chắc viết được hết tiếng China, thì ta quên một chuyện. Chuyện đó là bây giờ thì ta đọc mọi thứ rất dễ, trừ đọc lại di sản tinh thần của ông cha! Đã nói là ta đứt mạch văn hoá mà!

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

PHẬT PHÁP

...
Meditation 3

Động Tà Nguyệt Tam Tinh,
một vầng trăng khuyết ba sao giữa trời
Bữa trước mơ thấy chạy chơi trong vườn lý, đường phải trái như mạng nhện, cứ chực bị đi lạc. Vườn lý có biết bao nhiêu quả chín, nhiều như trong vườn đào tiên của bà Tây vương mẫu, nhưng nếm thử trái nào cũng thấy chua! Trái lý với phải lý thật là không dễ phân biệt. Xảy đâu gặp con khỉ già Tề Thiên đang cười khọt khẹt bèn hỏi luôn: Ê chỗ nào quả ngọt chỉ cái coi! Bị Tề Thiên quơ thước bảng gõ vô đầu cái cộp. May không bể cái đầu. Lão khỉ lấp lững nói: Chỗ nào hồi đó gieo cái nhân to, cái hột bự thì bây giờ cây ở đó có quả tốt chứ gì. Có trời mới biết trong vườn rộng như vậy chỗ đất nào đã gieo cái nhân tốt. Đang còn bán tín bán nghi, sợ đi lạng quạng trong vườn không gặp được Tổ sư Bồ Đề mà lại lọt vô động Bàng Tơ thì biết đã à nghe! Xem coi bộ tại hạ dùng dằng ngán ngẫm vì nổi đường xa khó đi nên hầu vương mới nói nhỏ: Gần thôi mà! Nè đi theo hướng núi Linh Đài, tới chỗ động Tà Nguyệt Tam Tinh, chỗ đó đó…
Quay bên phải, ngó bên trái, nhướng lên núi cao, nhìn xuống lũng sâu thấy mờ mờ động Tà Nguyệt Tam Tinh, chừng như xa lắm, không rõ hình dạng. Hỏi lão khỉ vậy chớ cái động ấy ở bên ngoài hay bên trong vườn lý? Lão lại hỏi ngược móc họng: Ngươi biết phép cân đẩu vân không? Trời! Tại hạ mà biết được chết liền. Mới nói gần thôi mà, bây giờ đòi phải biết cân đẩu vân, lộn xộn quá! Lão khỉ nói: Vậy thì nói cho ngươi biết, cái động ấy không ở ngoài mà cũng không ở trong. Nghe hầu vương chỉ đường mà rớt mồ hôi hột, tỉnh dậy liền, không dám mơ nữa!

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

PHẬT PHÁP

.
Meditation 2.

Không gian các thành tựu khoa học bao gồm các khái niệm, tiên đề, bổ đề, định lý, định luật, hệ quả, tính chất, các ứng dụng kỹ thuật, v.v.. dù được diễn đạt dưới dạng bạch văn hay dưới dạng công thức, bảng biểu, chương trình máy tính nào đi nữa thì tất cả các thứ đó đều là tổ hợp của các mệnh đề, là thứ phải được chắc chắn rằng tính đúng sai rõ ràng! À ra thế, cái không gian đó là một không gian hai chiều được sinh trên bộ vectơ cơ sở {Đúng, Sai}. Không gian đó dù có vĩ đại đến như thế nào đi nữa thì cũng là một không gian phẳng hai chiều. Nhưng cuộc sống thì không phẳng, nó không chỉ có các mệnh đề, không chỉ có lý lẽ, không phải bao giờ cũng lượng hoá được sự đúng sai, chưa nói đến tính đúng sai của các mệnh đề còn phụ thuộc vào tập vũ trụ mà nó qui chiếu vào! Người ta cũng có thể chống đỡ cho những lựa chọn không chắc lắm của mình trong cuộc đời bằng cách dựa vào một thứ gọi là logic mờ (fuzzy logic), nói đúng là đúng bao nhiêu phần trăm, nói sai là sai bao nhiêu phần trăm, tức là rốt cuộc phải dựa vào những thứ xác suất ngẫu nhiên thực ra không ngẫu nhiên tí nào! Mà khoa học về sác xuất thì rành rành là một ngành toán học. Toán học thì chưa bao giờ bước chân ra khỏi nhị nguyên luận cả! Vậy thì có một cái không gian được sinh ra trên bộ vectơ cơ sở có số chiều còn lớn hơn hai, mà không gian các thành tựu khoa học vĩ đại kia chỉ là một không gian con khiêm tốn của nó mà thôi! Ơ hơ… con người và các thành tựu nhận thức khoa học của nó – dĩ nhiên là đàng hoàng đứng đắn một nước – hoá ra chỉ là một phần rất nhỏ của các nhận thức về tự nhiên. Bởi vì con người, dù cho nó có đủ thứ thiết bị máy đo, dù cho nó có đủ thứ cảm biến độ nhạy siêu việt, dù cho nó sẽ chế tạo ra thứ máy đo nào đi nữa, hoặc xây dựng được lý thuyết về độ đo nào đi nữa, thì rồi tất cả các thứ đó chỉ có thể được nhận thức bởi con người khi biến nó thành các chỉ số hiển thị nhận thức được qua các giác quan của con người, ie: nhãn nhỉ tỉ thiệt thân ý. Các thứ đó rồi sẽ trở thành nhận thức qua quá trình bất biến “sắc-thọ-tưởng-hành-thức”. Và nó bị giam trong quá trình nhận thức đó, bởi chính quá trình nhận thức đó! Nhận thức của con người về vũ trụ - và do đó là nhân sinh quan - phụ thuộc vào cách mà nó sử dụng được phương tiện nào để định tính và định lượng vũ trụ. Vũ trụ trong quan niệm của người Trung quốc chẳng hạn: Tứ phương thượng hạ viết vũ, vãng lai cổ kim viết trụ. Vũ trụ gồm không-thời gian đó, phản ánh sự qui chiếu đơn thuần cảm giác đơn thuần của con người về vũ trụ bởi các giác quan, rồi sẽ phản ánh vào nhân sinh quan của nó. Không gian gồm bốn phương trên dưới, thời gian là một dòng chảy bất diệt, đều đặn, không cùng trong quá khứ và trong tương lai:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du
Độc sảng nhiên nhi thế hạ! (*)
Nhưng rồi năm tháng trôi qua, phương tiện đo tối tân hơn, làm “nảy nòi” ra cái ông Einstein, một ngày lộng lẫy nào đó bỗng thấy rằng thật ra thời gian có thể co lại hay dãn ra. Đàng hoàng trở về một ông Từ Thức, đi lạc cõi tiên đâu có mấy ngày, mà sao trong cõi người ta phải chờ đợi mấy trăm năm bây giờ mới gặp lại! Và trong thời ông Einstein thì vũ trụ chẳng biết đâu là tứ phương trên dưới nữa, có chăng là chỉ dựa vào con quay hồi chuyển (gyroscope) để con ong xác định đường đi lối về cho khỏi lạc giữa muôn hoa!
Rồi thời hiện đại lại đẻ ra cái ông Stephen W. Hawking ngó nghiêng trước sau, tìm mãi chẳng thấy thượng đế ngự ở chỗ nào trong vũ trụ. Dò mãi trên đường thời gian mới phát hiện thấy con đường ấy tuyệt lộ ở một đầu quá khứ, còn đầu tương lai thì không biết liệu có một phép nghịch đảo nào đó làm cho nó quay lại chốn ban đầu hay không?
Vậy đó, không có cái gì bền vững ngoại trừ sự thay đổi, ngoại trừ sự vận động, kể cả các thứ thành tựu khoa học. Cái gì cũng vô thường trừ bản thân sự vô thường.

(*) Đăng U châu đài ca của Trần Tử Ngang
Trần Trọng San dịch như vầy:
Bài ca lên đài U châu

Ngoảnh lại trước: người xưa vắng vẻ;
Trông về sau: quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.

(Hình như tôi đã đi quá xa so với vấn nạn ban đầu,
và những thứ này chắc cũng không mấy thích thú nếu không nói có thể gây dị ứng.
Viết xong đoạn này tôi có ý định dời nó qua một cái blog khác
nhưng như thế thì có vẻ như đánh trống bỏ dùi.
Thôi, đã lỡ nhảy xuống sông thì phải ráng bơi để khỏi chết chìm!
)

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

PHẬT PHÁP

...
Phật pháp thậm thâm vi diệu.
Meditation 1.

Có người bỗng nhiên đặt cho tôi một câu hỏi: Anh Bình, anh tin có linh hồn không? Dĩ nhiên trong niềm tin của tôi thì tôi trả lời: Có chứ! Thế người đó lại nói tiếp: Vậy anh duy tâm rồi! Tôi lại nói tiếp: Không! Tôi là người duy vật.
Có hay không có linh hồn? Câu hỏi thật là lớn quá. Lớn đến nỗi đó là câu hỏi ám ảnh nhân gian suốt lịch sử loài người, không chừa bất kì ai từ vua quan cho đến cùng đinh thứ dân, từ kẻ trí tuệ sáng suốt đến kẻ ngu ngơ khờ dại, từ người hiền nhân đến kẻ ác tà. Có chăng chỉ có người điên – nhưng tôi không chắc lắm – mới không đặt ra câu hỏi đó! Đơn giản là kiếp nhân sinh rồi cũng dẫn mọi người kia về đến chỗ tận cùng không cùng, đối diện với cái phủ định tuyệt đối không có phủ định lần thứ hai, không có (không (không A)) là A, là cái chết! Và ai cũng muốn biết đằng sau lần phủ định ghê gớm kia là cái gì nữa! Có lẽ đó cũng là câu hỏi mà “khoa học” – hiểu theo nghĩa hiện thời – vĩnh viễn không khi nào có câu trả lời, bất khả tư nghì! Khoa học – cho tới nay - là đường gươm cực kì sắc bén có thể rạch toang gần như mọi màn đêm các u minh ám chướng để cho con người bước ra ánh sáng của nhận thức. Nhưng, chữ nhưng này nằm đúng ngay hàng rào vững chắc của khoa học, nơi chỗ chủ nghĩa duy nghiệm và chủ nghĩa duy lí chống đở cho mọi mê lầm không xâm nhập được vào lâu đài khoa học, nơi mà nhị nguyên luận loại trừ không thương tiếc mọi lấp lững ba phải để cho mọi nhận thức đều được sáng sủa phân minh. Nếu khoa học là đường gươm sắc bén của nhận thức thì câu hỏi này đặt ngay trên cán gươm. Ô hô… không có con dao bén nào có thể gọt được chính cán dao cả!
Vì sao vậy!? Không gian các thành tựu khoa học, kể cả các thành tựu khoa học gần đây nhất của máy tính, của công nghệ thông tin đều phải đặt trên nền tảng nhị nguyên luận, và phát sinh (generate) từ trên nền tảng đó. Ngành khoa học nào cũng phải dựa trên toán học, trên nhị nguyên luận trong cái logic của nó. Đâm đầu vào logic học là đâm đầu vào hố thẳm của tư tưởng. Khoa học có thể đạt tới nhận thức về nguồn gốc phát sinh vũ trụ, về l‎ý thuyết big bang. Trong lý thuyết đó, ngay đúng trước vụ nổ, toàn thể vũ trụ chỉ là một điểm. Vũ trụ là một điểm và một điểm là toàn thể vũ trụ. Một điểm đúng như khái niệm điểm trong toán học, nghĩa là cái gì đó không có bề dầy, không có bề rộng, không có kích thước. Kể từ đó mới có thời gian. Vì thời gian không phải là cái gì khác ngoại trừ sự vận động. Tới đây thì khoa học gặp phải những câu hỏi nghiêm trọng. Đại loại như thực ra có hay không có thời gian? Tại sao con người nhận thức được cái gọi là “hiện tại” trong khi thực tế hiện tại là cái không tồn tại bao giờ mà chỉ có cái đã qua và cái sắp tới mà thôi. Ở ngay cái cán dao đó là một nhận thức khác: Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Đúng ngay nơi đó thời gian bắt đầu và thời gian không tồn tại. Đúng ngay nơi đó vũ trụ tồn tại và vũ trụ chưa hình thành. Trong mỗi lỗ đen vũ trụ có gì? Không có gì vì thông tin không thể thoát ra khỏi lỗ đen nhưng cũng chính trong lỗ đen nguyên thuỷ là tất cả, từ đó nở bung vũ trụ. Đúng ngay nơi đó ta buộc phải luận nhị nguyên về cái gọi là nhị nguyên luận.

Vậy tôi đang phủ định khoa học chăng!? Không phải!
Nhưng bây giờ thì quá khuya rồi. Phải đi ngủ thôi. Rồi tôi sẽ viết tiếp

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

MƯA QUÊ VÀ MƯA THÀNH

...
Ô hô! Hôm nay ông bạn già tôi ai oán quá đổi. Chuyện có gì đâu mà “sân si”! Đó là lời bà vợ của ông bạn tôi nói lại. Chuyện có gì đâu mà sân si! Ừa, bà ấy là phật tử mộ đạo và thuộc lòng bài kinh bát nhã. Bả nhắc ông bạn của tôi, tức là chồng bả: Nè! Thôi đi, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố! Hì hì… thì ông bạn tôi sợ Phật một nhưng sợ… vợ tới không biết bao nhiêu lần nên đành trợn trạo nuốt cái cục giận xuống bao tử, ruột gan cồn cào cháy bỏng, quay đầu xe chạy về Bến Tre một nước!
***
Chuyện có gì đâu!
Là hai vợ chồng ông bạn tôi có ông bạn ở xứ người. Tình cố lý mến thương đã nhiều năm. Lại là bạn học từ thời thanh xuân. Bây giờ đầu đã bạc nhưng vẫn giữ liên lạc, chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Thỉnh thoảng người ở xa xứ kia cũng có tấm lòng gởi về quê xứ ít tiền quà để hai vợ chồng ông bạn tôi đi làm từ thiện giúp. Mà hai vợ chồng ông bạn tôi vì dù nghèo thì nghèo thật nhưng tình thương người thì không thiếu. Cái câu bầu ơi thương lấy bí cùng hay cái câu lá lành đùm lá rách một dạ đinh ninh thuộc lòng. Vài hôm lại xếp việc nhà, bỏ bửa chợ để đi làm từ thiện theo nguyện vọng của người xa. Nói về cái tính thương người thì ông bạn tôi – dù có một thời chiến tranh chơi với súng đạn chiến trường - một khi đã bỏ cây súng xuống thì, nói như kinh Phật, quay đầu là bờ, nên hiền lành như đất. Mà đất quê ta hiền lành thật! Con người chơn chất thật! Tôi nhớ hồi nhỏ ở cái xứ Cà Mau heo hút nhà người ta không có vách, trước nhà có cái lu sành nho nhỏ chứa nước mưa để bá tánh thập phương ai có lở độ đường khát nước thì có mà uống (Hình như bây giờ Coca Cola và Pepsi nhiều quá, sẵn quá nên tôi chẳng thấy cái lu sành ấy nữa), mà có lở độ đường ghé nhà người ta hú một tiếng chủ nhà chạy về ra mắt là được. Còn nếu muốn ở lại vài hôm thì người ta cũng sẵn lòng nhường cho chiếc nóp, đãi vài bữa cơm hoàn toàn miễn phí. Xứ ấy cá mắm thiếu gì, ngó xuống bàn chân là thấy ngọn rau, lấy rổ xúc quơ dưới nước là có mấy con cá, đãi khách vài bữa cơm thì có nghèo thêm chút nào đâu, tính toán làm gì? Người ta có khi cũng chẳng hỏi khách là ai, vì sao lưu lạc ở chốn cùng trời cuối đất. Tía tôi giải thích chuyện đó như vầy: Tới cái đất này chỉ có ba hạng người: Hạng thứ nhất nghèo rớt mồng tơi, trốn nợ nên mới tới đây. Hạng thứ hai là hạng trốn tù, chạy vô tới đây – trên là trời cao, dưới là đất rừng rộng mênh mông - dễ gì biết nơi nào mà kiếm. Hạng thứ ba là hạng người làm quốc sự - đầu đội trời chân đạp đất như không – nhưng khó nêu danh tính. Cả ba hạng người đó đừng hỏi danh tính chi cho mất công! Là người với nhau cả, thì cứ lấy tình người mà đãi thôi! Đất Bến Tre không như xứ Cà Mau xưa nhưng cũng là cái xứ hiếu khách. Ông cậu tôi ở Bến Tre có câu nói vui lắm mỗi khi mời khách: Ừa, tới nhà tui chơi đi, tình thương mến thương mà, dù cho ơ bể cũng ráng kêu cạch cạch, đừng lo! Trưa nắng ai lở độ đường ghé hỏi thăm cũng xởi lởi mời vô nhà uống miếng trà cho khoẻ rồi muốn đi tiếp đâu thì đi, gặp lúc trời mưa thì sai con bắc cái ghế ra mời khách ngồi đụt mưa. Ối, mưa ở ruộng, mưa trắng đồng, buồn muốn chết! Vũ vô kiềm toả năng lưu khách mà, đỡ buồn!
Tôi nói lung tung xa quá gần lạc đề rồi! Trở lại chuyện hai vợ chồng ông bạn tôi - mới đây thôi - có nghe ông bạn xa xứ kia nhắn có người bạn ở bển về sẽ ghé ngang thăm. Hai vợ chồng - mặc dù văn kì thinh, lần đầu kiến kì hình – nghe nói bạn thân của bạn bèn tiếp đãi ân cần chu đáo lắm. Theo cái kiểu chịu chơi thiệp liệp, hào hiệp tứ hải giai huynh đệ! Chẳng phải tại vì bạn có tiền quà nước ngoài gì đâu, xin đừng có hiểu lầm! Hai vợ chồng ông bạn tôi sống theo cái kiểu nhà quê, tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tợ thiên kim. Ấy là tại vì câu nhơn nghĩa mà thôi!
Lại mới đây, nghe một người bạn của bạn ở bên ấy bị bệnh nan y, gan bị K, bác sĩ chê rồi! Lại nghe anh của người bệnh sắp bay qua bển sẽ ghé chỗ ông bạn nối khố. Thương bạn thương luôn… bạn của bạn. Sẳn có bài thuốc quí, cho vài người cùng chứng bệnh uống rồi, kể cả người trong nhà, vài người hết bệnh, vài người mười phần đở tới tám chín bèn muốn làm phước. Làm phước thôi chớ chẳng lấy xu nào. Thày dặn rồi, thuốc này làm phước, không được lấy tiền! Lấy tiền của con bệnh là tai hoạ tới với mình liền! Bèn ngâm một chai rượu thuốc đủ ngày, sớm bửng bạn già khoác chiếc áo phong sương, chở bà vợ bằng chiếc xe cà tàng chạy lên Saigon kiếm địa chỉ để gởi.
Saigon đô hội, xe đông như ổ mối, áo quần như nêm, rần rần ào ào, nhà cửa địa chỉ lộn xộn như ma trận càn khôn, đường cao đường thấp, lô cốt hố ga rình rập, bửa nay đường hai chiều ngày mai lại thành đường một chiều, nay đúng mai sai không biết đâu mà lường. Phố phường nắng thì nghẹt khói, mưa thì chạy dưới sông, luôn luôn có cái mùi hôi thối đặc trưng. Hôi thật đấy, đến nỗi có lần đi xe đêm từ Trảng Bom về Bến Tre đang lơ mơ ngủ vì mệt mỏi bị đứa nhỏ khều dậy hỏi: Ông ơi ông, tới đâu đây ông? Mắt nhắm mắt mở trả lời: Tới Saigon! Sao ông biết? Nghe cái mùi hôi là biết. Ở Saigon lâu đứng gần người ta là người ta biết mình là dân Saigon liền hà! Giống như chạy ngang Phan Thiết là biết liền mùi thơm nước mắm vậy! Hai vợ chồng bạn già chạy từ Bến Tre lên tới Bình Chánh thì không thấy mệt nhưng qua khỏi Bình Chánh là hai cái buồng phổi già và hai trái tim già ngất ngư ngầy ngật như bị trúng gió! Vậy mà phải chạy lòng vòng tới trưa đứng bóng mới kiếm được cái nhà. Là nhà anh của người bệnh. Cái nhà thiệt đẹp, cái cổng cũng đẹp luôn.
Mưa Saigon! Khi không cái mưa ào ào. Hai vợ chồng tới trước cổng, mưa rào rào trên hai cái đầu bạc. Trong nhà một cô đội nón chạy ra, áo quần đẹp đẽ, đứng sau cổng hỏi trời mưa mà muốn kiếm ai. Thì thiệt tình nói tụi tui ở dưới quê mới lên kiếm chỗ nhà cô đây để gởi tặng chai thuốc. Cô nhỏ thò tay qua cái lỗ ở cổng lấy chai thuốc, nói… Được! Cô nhỏ nghiêng đầu nhìn qua cổng nói bâng quơ: Mưa lớn quá hé! Rồi cô nhỏ chạy vô. Rồi thôi! Hai cái đầu bạc nhìn nhau. Hỡi ơi trời đất vô cùng rộng, nhà cửa phố xá thênh thang, tầng cao tầng thấp, nhà nào cũng kín cổng cao tường, không một chốn dung thân! Hai cái đầu bạc lạnh run nép vô cái tường rào, ngó cái cổng khép kín vô tình, và thấy trên mắt người kia một giọt nước. Có lẽ chỉ có hai giọt nước đó là ấm trong cơn mưa lạnh này mà thôi!
***
Mà tôi nói với ông bạn già thôi ông ơi, tại ông nghĩ vậy chớ người ta thấy chuyện đó là bình thường mà. Thôi đi, lòng ông nghĩ vậy nên ông thấy như vậy chớ chắc cô nhỏ đó cũng là người có học, chắc cũng có một chút xíu văn hoá, không đến nỗi tệ quá đâu!