Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020

Hoa xuân


Mồng một tết! Đất trời tinh khôi. Lòng mong ước cho quê hương yên bình, no ấm. Chúc cho muôn người vui vẻ, hạnh phúc, mọi thứ vẹn toàn.
Mồng một tết! Ta cũng còn hơi trẻ... chỉ mới U70. Bạn bè đi chơi đâu hết, chỉ còn mình ta thơ thẩn trong sân vườn. Thôi thì vui với hoa kiểng đầu xuân.

Mồng một tết! Nắng thì trong, gió xuân thì mát.
Lòng xuân phơi phới.
Một cội mai vàng rực rỡ.
Ba nhành mai trắng trinh nguyên.
Dăm nàng tiên nữ.
Mấy kẻ tuyết sơn.
Vui xuân. Xuân tới.
  


Một cội mai già

Mấy nhành mai trắng trinh nguyên.

Rực rỡ

Dăm nàng tiên nữ.

Mấy kẻ tuyết sơn

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2020

NHẠT NẮNG




Tôi mang ơn thầy Huỳnh Tấn Kim Khánh,
 người dạy cho tôi biết “yêu tiếng nước tôi”,
biết viết tiếng mẹ đẻ cho đàng hoàng,
 và biết cái đẹp của ngôn ngữ.
Tôi kính dành tặng bài này cho thầy.



Tôi có một thói quen kỳ cục. Đó là cái lối tôi hay trầm ngâm quan sát đám đông. Giữa dòng đời tuôn chảy không ngừng, muốn nắm bắt khoảnh khắc và làm cho nó ngưng đọng trong kí ức, có vẻ là việc vô nghĩa. Tôi đã đọc được đâu đó rằng quá khứ là điều không thể sửa đổi, tương lai thì… phụ thuộc quá khứ, còn hiện tại thì thực sự không tồn tại! Kệ, tôi cứ giữ thói quen của mình.

***

Sao tôi lại nói dài dòng làm vậy!? Chẳng là tôi hay nhớ lại mái trường. Và tôi đã gắn bó với Hội ái hữu cựu học sinh Kiến Hòa quá lâu rồi, từ hồi những năm 70 của thế kỷ trước, khi tôi vừa rời khỏi mái trường. Và tôi còn nhớ khi đó thầy Nguyễn Hữu Năng hãy còn phong độ lắm (và cực kì đẹp trai với đôi môi đỏ chót đặc trưng!) phụ trách cái đám cựu học sinh bấy giờ đã là sinh viên Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm. Nhớ anh Nguyễn Thiện Nghệ, quê Mỏ Cày, giảng nghiệm viên khoa vật lý địa cầu bên Đại Học Khoa Học, năng nổ, thân ái và nhiệt tình. Nhớ chị Huỳnh Thị Kim Thoa dịu dàng hết mực nhắc nhở tôi giữ liên lạc với anh em. Cái ngày ấy đã quá xưa rồi, đã là thứ ánh nắng nhạt phai phải không?! Thậm chí những người ấy gần như không còn được nhắc đến trong những lần họp mặt sau này. Thì thôi! Bây giờ có khi giật mình thấy tóc bạc quá nhiều, đầu óc lãng đãng nhớ nhớ quên quên, nếu còn nhớ lại được chút gì đó còn ngưng đọng trong tâm tư cũng là một thứ hạnh phúc, dù là thứ hạnh phúc tội nghiệp!

À… tôi hay quan sát – không phải quan sát từng người riêng rẽ - mà là quan sát những nét chung của đám đông! Xem! Trong lệ giỗ hàng năm cô Ba Sinh và thầy cô quá vãng, tôi ngồi đó lặng lẽ, trong một góc, để ngắm từng thầy cô còn đến được, nghía vài người bạn già… cũng còn đến được. Lòng u hoài theo giọng tụng mênh mang của sư thầy: … Ư… chuyên vì kỳ siêu … thính pháp văn kinh, tốc xả mê đồ, siêu sinh tịnh độ… Thì tôi ngồi đây để thính pháp văn kinh, còn đâu là ngõ mê đồ, nơi đâu là chốn tịnh độ!? Tôi lại lơ mơ lời kinh câu kệ, nhìn qua nhìn lại từng người, cố gắng đọc cho được nỗi niềm chung trong đám ấy. Xem kìa! Chỉ toàn những mái tuyết sương, những khóe mắt đầy dấu chân chim, những tấm lưng oằn gánh nặng tháng năm, những nụ cười thường khi khô cạn, những nét ngồi im bóng mơ hồ! Lại vọng đến như từ xa cõi nào: … nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. vô khổ, tập, diệt, đạo,… À tôi lại nhớ…



Có những thứ rất tầm thường mà nó làm cho mình nhớ thiệt lâu. Như tôi hồi học Kiến Hòa, ngôi trường khi đó trông đẹp và hơi lãng mạn. Cái đẹp của thánh đường tri thức đó khi ấy đôi khi tương phản với không gian dữ dội của cuộc chiến vẫn diễn ra hàng ngày, không xa. Tôi đôi khi đi học vẫn phải đi ngang qua những xác người neo dưới chân cầu Cái Cối hoặc phơi ở bến đò ngang. Trên đường đi là một quê hương tan hoang, lỗ chỗ vết đạn, hố bom, với những vườn cây trụi lá, những hàng dừa cụt có khi tới gốc. Quê hương khi ấy không dễ thương, dưới những vầng trán nhăn luôn là những nỗi lo âu trắng mắt và đường đi khi mưa về luôn là những ngõ trơn lầy lội. Thế nhưng bước tới cổng trường là thấy ngay đôi câu đối bằng chữ nho:

Hàm dưỡng nhân luân minh tuấn đức.
Hoằng khai khoa học tác tân dân

Câu đối ấy giờ vẫn còn yên vị trước cổng trường, chỉ có điều bị phủ chìm dưới lớp xi măng khô lạnh, chìm dưới nắng táp mưa sa của năm tháng rêu phong và những thăng trầm thế sự. Vậy nhưng, hồi âm của câu đối ấy luôn vang trong lòng như một lời nhắc nhở về thiên chức của nghề giáo, của nhà trường, để sau này làm kiếp một anh giáo quèn, khó khăn vất vả nhiều phen, mà giữ cho tôi chút lòng tử tế để hoàn thành công việc của một anh giáo tốt cho đến ngày về hưu mà không phạm lỗi lầm nào về nghề nghiệp. Tôi không dám chắc chỉ “lương sư” thôi thì có “hưng quốc” nổi không, nhưng chắc rằng một nhà giáo tồi, một nền giáo dục kém thì làm hại một thế hệ trẻ và làm hại tương lai đất nước rất nhiều.

Bước vào cổng trường là một không gian khác. Thầy hiệu trưởng Trần Kim Quế khi ấy đã cho thiết kế sân trường thành một công viên với những lối đi viền đầy những loài hoa. Nhà trường trở thành một chốn thanh bình để những tâm hồn thơ dại mong manh nuôi cấy những ước mơ đẹp đẽ cho một ngày đất nước hết binh đao. Có học trò nào không hạnh phúc được học dưới mái trường ấy phải không?!

Một điều ngộ nghĩnh là nhà trường khi ấy không có trống trường. Ở cuối dãy A treo một miếng sắt dài to bự và cong vẹo (hình như được lấy ra từ chassis của một chiếc GMC tan nát nào đó). Lúc đầu tôi ghét cái thứ kẻng kì quái và vô duyên đó. Thử nghĩ xem, giữa một không gian êm đềm lít chít tiếng chim trong bóng mát của mấy cây sộp già, của cây phượng xanh mướt lá non với những chùm hoa đỏ đến nao lòng, bỗng vang mấy tiếng kẻng chát chúa và khô lạnh. Rõ chán!

Ngôi trường ngày xưa ấy giờ hầu như không còn nữa. Hoặc nó xuống cấp quá đổi để người ta phải đập bỏ và xây lại mới, hoặc nó phải nhường chỗ cho các tên trường khác. Mỗi lần đi ngang là tôi thấy nó đổi khác. Tâm trạng của tôi là sao à? Giống như thấy người yêu đi lấy chồng khác vậy. Nàng vẫn ở chốn cũ, nhưng không phải là nàng nữa, thậm chí nàng đã mang tên khác. Và mắt môi của nàng, mái tóc dài tôi từng say đắm bây giờ xa lạ. Gió vô thường thổi qua nàng, thổi qua tôi! Không biết từ khi nào nàng ly dị tôi, tôi ly dị nàng. Hồn tôi choáng váng vì đã từng yêu nàng, bây giờ vẫn còn yêu nàng, nhưng không phải nàng với cánh cổng có hai vệt xi măng thô bạo, không phải nàng với da thịt tân trang, không phải nàng với thời trang tân kì! Đóa hoa nàng vẫn còn trong tôi nhưng tôi chỉ nhớ nàng ngày cũ. Còn…

Ừ thì bây giờ tôi ngồi đây nghe vọng lại trong tôi tiếng cầu kinh phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng… Tôi ôm ấp hư vọng nào mà nhớ quá từng thầy cô, nhớ quá từng bóng cây rợp mát góc trường, nhớ tiếng đồng vọng của câu hàm dưỡng nhân luân, nhớ những cánh hoa mỏng mảnh rung rinh trong sân trường, nhớ cái thư viện nhỏ đầy sách quí của thầy Đỗ Quang Hạnh, nhớ tuyển tập in ronéo của thầy dạy văn Huỳnh Tấn Kim Khánh trong đó có bài Chơi Giữa Mùa Trăng của nhà thơ Hàn Mặc Tử tuyệt hay (tôi đọc đi đọc lại bài ấy hàng trăm lần đến mức gần như thuộc lòng). Rồi tôi cũng nhớ thứ tôi vốn ghét… nhớ tiếng kẻng kết thúc buổi học!

***

Hết buổi học. Ra về. Bờ hồ nước xanh thẳm lại. Có gì đó tàn phai trong chiều nay nhạt nắng. Vừa đi vừa lẩm nhẩm câu của Hàn Mặc Tử: Tôi càng đi trời càng tối…



Vương Đức Bình
(Mùa trăng hạ nguơn năm Kỷ Hợi 2019).


  • Một chút cước chú: Bài này trước đây tôi viết cho Kỷ yếu Cựu học sinh Trung học Kiến Hòa (năm 2020). Tiếc thay tờ kỷ yếu ấy không ra được vì lí do thiếu kinh phí. Thế thì đưa (bài viết) lên đây để anh em nào muốn xem thì… xem!