Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

Đọc Feed back...

Cái anh Google Blogger này thì ác thật! Tưởng ảnh thật tình ai dè ảnh chơi màn nói nhỏ chuyện của mình với người khác... Để xem, nếu mình đăng kí theo dõi một cái blog nào đó là bao nhiêu chuyện blogger viết nháp mà không đăng/chưa đăng thì ảnh cũng đem thông báo vào mục Feed của mình ráo. Cái này thì cũng có lợi cho mình khi muốn comment cái gì đó vào một blog quen, mình sẽ biết trước blogger đó đã viết cái gì mà không đăng, đang chỉ ở dạng bản nháp, do đó mình sẽ tránh được một số comment "hố!". Nhưng như vậy là Google không mấy tôn trọng sự riêng tư rồi! Để xem lại điều khoản thỏa thuận với Google Blogger coi có nói gì về cái vụ này không? Vậy ai đó không muốn cho mình biết bản viết nháp thì xin ... xóa mình ra khỏi danh sách theo dõi blog của bạn nghe.
Xin bá cáo cho bà con làng trên xóm dưới được biết!

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2009

Ghi trong chiều ...


Ngồi lặng lẽ trong vườn, làm cỏ. Không biết từ hồi nào đâm ra ghiền làm vườn. Không phải nông dân! Bằng chứng là cây cối trong vườn dở òm, trái lưa thưa. Làm vườn để khỏi phải suy nghĩ mông lung, để tránh stress. Đã quá mệt mỏi với bao nhiêu thứ phải suy nghĩ. Cái nghề của mình là cái nghề suy nghĩ: từ suy nghĩ để lập trình máy tính đến suy nghĩ để viết cái giáo trình mà hạn chót phải giao ngày càng đến gần, rồi lại suy nghĩ về CNTT trong giáo dục mà ngài hiệu trưởng đặt cho mình phải viết (Cái này thì đang suy nghĩ không ra! Hứa lèo với ngài hiệu trưởng mấy bận rồi! Lẽ ra ông ta nói với mình phải làm gì thì lại đi hỏi ngược lại mình! Khổ thay!) Ông bạn Tấn Phúc nói nửa đùa nửa thật: Ông anh đau khổ vì ông anh đi trước thời đại! Chậc! Nghe như mình không phải là nhà chiến lược thì cũng là đấng tiên tri không bằng! Bà nhà thì phán cho một câu: Anh là một người lệch chuẩn! Ơ hơ … chuẩn ra làm sao nhỉ?! Cô bạn sính thơ thì độp cho hai câu: Nghiệm chẳng tới chân niềm diệu thú/Suy chưa cùng lý chuyện đời trêu. Trời! Cái lý của cuộc đời ra làm sao vậy ta? Có khi mình còn không hiểu mình nữa là! Đại ca Cao Thoại Châu thì gán cho mình: L’homme qui en savait trop - Kẻ biết quá nhiều. Đại ca nghĩ mình thì biết cái gì mà quá nhiều!? Con cái thì không dám nói gì tía nó nhưng có vẻ như chúng đang suy nghĩ: Ba… giống ông già Khốt-Ta-Bít. Ngồi ngó cái bóng bụi chuối đổ dài trên cỏ khô. Cái bóng đó khi này khi khác, thay hình đổi dạng theo gió lay mấy tàu lá chuối. Mình thì giống bụi chuối còn mọi người thì thấy mình giống cái bóng chuối!

Đang làm cỏ thì có điện thoại từ nơi xa lắc - tận những Sacramento - gọi về. À! huynh Tịnh Trung. Chỗ đó giờ đang là 1 giờ đêm, thời tiết đang là -2 độ. Lạnh cóng mà ngồi gác cổng cái sân bay mênh mông, lặng ngắt thì chắc huynh này nhớ nhà, nhớ mái ấm Bồ Đề, nhớ Bến Tre đây. Đêm khuya lơ khuya lắc gọi về nói chuyện đời chuyện đạo. Vứt cây dao làm cỏ qua một bên nghe huynh tâm tư về lẽ sống. Huynh Tịnh Trung kết thúc câu chuyện dài trên điện thoại bằng một câu: Hạnh phúc = Tâm an + Thân khỏe. Úy trời! Cái đẳng thức này hay à nghe! Quá đúng! Rằng hay thì thiệt là hay … Lại suy nghĩ lan man (suy nghĩ nữa rồi!), lại nhớ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư muốn đặt tên cho con là Tâm An. Cái ước muốn của bà nhà văn này thiệt là … vĩ đại! Vĩ đại ở chỗ Ông Huy Cận đã từng viết về các vị La Hán:


Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.


Vấn đề nhè ở chỗ giữa cuộc trần ai:


Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.


Tìm đâu ra cái “Tâm An” đó chớ? Thôi! Không suy nghĩ nữa!


****

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Noël tỉnh lẻ.


Vinh danh thiên chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.



Tin lành


Công giáo


Đêm huyền ảo


Nhảy múa loạn xạ!


Bên kia sông...


Về lại lặng lẻ chốn này



và ... tự thắp cho mình một ngọn nến, rót cho mình một ly rượu độc ẩm.

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2009

SỎI





Đá từ trên núi cao lăn theo triền dốc, va chạm với vách núi sắc cạnh vỡ dần, lúc đến được bờ biển thì chỉ còn nhỏ vừa nắm tay, thành hòn sỏi nằm yên trên bãi cát. Ngày ngày sỏi nghe biển rì rào trong tiếng gió. Biển kéo sóng đến thăm hỏi: Sỏi ơi sao người tròn trịa thế? Sỏi trả lời: Những gì sắc cạnh tôi đã đánh rơi dọc đường cả rồi! Gió ghé ngang hỏi: Sao người không lăn nữa? Ở chân trời kia còn nhiều điều thú vị lắm! Sỏi bảo: Bờ cát này êm ái giữ chân tôi. Ở đây có thể chiêm ngưỡng rạng đông lẫn hoàng hôn! Gió giục biển đẩy hòn sỏi khỏi bờ cát lăn trên đường mòn. Trước khi bỏ đi, gió và biển còn nói với theo: Bọn tôi đi đây, bây giờ bạn có thể tiếp tục lăn, thế giới còn rộng lớn lắm. Hòn sỏi lăn dọc đường thiên lý khô khan, nắng sớm mưa chiều mãi chẳng thấy gì hay ho, chỉ bị giẫm đạp. Một sớm chớm thu lạnh, cô tiên nhỏ tình cờ gặp hòn sỏi. Cô nắm hòn sỏi trong lòng tay êm ái hỏi: Sỏi ơi sao người rắn vậy? Người lăn không biết đau à! Sỏi đáp: Sao lại không đau, chỉ không giữ lại vết đau trên người thôi! Cô tiên hỏi: Sỏi ơi ta có một cành hoa hồng, ta đem người về đặt nơi chậu hoa nhà ta nghe, người sẽ làm chậu hoa của ta bớt cô quạnh. Sỏi đáp: Ta không ích gì cho hoa, hồn của ta biển và gió đã đem đi rồi. Ta cần tìm lại họ. Em có giúp ta không? Cô bé tiếc rẻ nhưng dịu dàng đem hòn sỏi trả về bãi cát.

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Im lặng trong cành du.

Xem thống kê các nơi ghé thăm blog
thấy có nhiều người mình chưa biết.
Một số chỉ truy cập một lần rồi ... thôi,
chắc là do tình cờ lướt trên mạng mà gặp,
nhưng nhiều truy cập còn trở lại.
Nếu bạn đã trở lại thì bạn tìm thấy gì ở đây?
Mình có thể chia sẻ gì với bạn?
Trang này chỉ viết bằng tiếng Việt
vậy mình gần chắc bạn là người Việt.
Ở nơi xa xôi đó bạn nhớ nhung gì một cảnh quê, một tâm tình cũ?
Mùa này ở các xứ ôn đới là mùa tuyết rơi ...
Post lên đây một bài thơ của Vũ Khắc Khoan
với hy vọng cũng là tâm cảnh của một vài trong số các bạn.

NGỠ XUÂN

Nửa khuya nghe chim lạ
Hót lẻ trong cành du
Thoảng lời kinh vô ký
Chập chờn ánh lửa giang đầu
Lắng nghe con chim lạ
Hót khẽ trong cành du
Chợt nhìn qua khung cửa
Bạt ngàn ngợp trắng trang lu

Xuân đã về miền Hương Tích?
Sao có hoa mơ nở trắng rừng mơ?
Hỡi ơi không trắng hoa rừng mơ
Mà trắng miền đất lạnh
Hoa tuyết bay trắng rực Ngũ Đại Hồ
Hoa tuyết rơi liệm trắng màu hoa miền nhiệt đới
Nơi tuyết rơi chỉ ở trong thơ
Hoa tuyết bay lất phất
Nghe như rờn rợn lời tâm sự
Mưa nhỏ thở dài trong giàn dưa
Liêu-trai-chí-dị
Nửa khuya đất Hồ
Có con chồn già thùy lệ

Lại nghe con chim lạ
Hót lạnh trong cành du
Lạnh ấm trà hoa cúc
Lạnh lẻn vào trong tôi

Tôi từ thưở xa miền nhiệt đới
Đến đây kết nghĩa với cây du
Lòng vẫn nhủ lòng rằng thôi đừng nhớ
Ngày ngày ngồi gốc cây du
Mơ cưỡi một con trâu
Đi về miền nắng quái

Lá du như sao buổi sớm
Nhưng biết đùa với nắng mùa thu
Cũng vàng cũng nhuộm màu quan tái
Và rụng khi cành gầy ôm tuyết trắng
Đi vào thiền khoảng cuối mùa thu

Nhưng bỗng nhiên im lặng
Im lặng trong cành du
Lắng tai tìm chim lạ
Nghe nhẹ bổng cành du

Cúi đầu tưởng đến duyên kỳ ngộ
Mong manh chim lạ cành du
Rồi những khuôn mặt cũ
"Cùng lận đận bên trời một lứa"
Giờ đây thưa thớt
Như lá mùa thu
"Ước cũ duyên thừa"
Có còn tiếp nối?
Hay chông chênh sát na một thoáng
Chim lạ bỏ cành du
Cánh nhỏ vụt nhòe trong cánh tuyết?

Ngùi ngùi mái tóc mờ sương thu
Tuổi già lệ như "lác đác
Rừng phong hạt móc sa"
Đâu có thùy lệ?
Chỉ rưng rưng sầu.


*****

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Nói nhãm với Khoa Chiến

Lâu lâu xin phép viết lăng nhăng một chút!
Ai không chịu được thì xin đừng đọc hoặc bỏ quá cho.
Bởi vì có những chuyện không nói lăng nhăng
thì cũng không biết phải nói làm sao
cho nó khỏi lăng nhăng!
Cũng xin lỗi trước
Nguyễn Khoa Chiến vì viết một bài rất cảm động -
lẽ ra giúp tôi trở nên nghiêm túc hơn -
mà hóa ra tôi lại lăng nhăng hơn!

Có một dạo tôi có một anh bạn rất mê cái câu trong Hamlet: To be or not to be. That's the question! Tôi không chắc mình hiểu đầy đủ được cái câu vĩ đại đó của Shakespeare vì chưa bao giờ tôi đã đọc hay xem hết Hamlet! Một phần tại vì làm biếng và ... phần khác tại vì có quá nhiều thứ phải đọc. Không đọc đầy đủ Hamlet nhưng chắc tôi có bỏ ra nhiều thì giờ để nghĩ ngợi về câu đó khi này khi khác trong những lúc rơi vào thế lưỡng nan. Đó không phải là chuyện thuần túy văn chương, văn nghệ hay chuyện triết học xa vời! Đó là chuyện một ngày nọ khi anh đã bị cuộc sống quăng lên quật xuống khá nhiều mới phát hiện thấy cái gì từ hồi đó tới giờ anh vẫn hằng tin là đúng thì té ra nó chỉ là một thứ không có mấy giá trị, nếu không nói đó chỉ là một mớ giẻ rách. Một thứ giẻ rách thật sự cũng cùng một giuộc với những cái anh vốn vẫn hằng tin là sai. Cho nên đôi lúc tôi cũng tin rằng cái trăn trở lẩm bẩm của Hamlet không phải ở chỗ The solution is to be ... hoặc The solution is not to be... Cái trăn trở của Hamlet chính là ở chỗ Hamlet biết tỏng rằng chẳng làm gì có câu trả lời giải thoát cho nỗi đau thường trực của nhân loại một khi nhân loại đó vẫn cố chấp tin rằng cái phần con là ít hơn cái phần người trong con người. Con có trước hay người có trước? Câu hỏi đó quá lớn đến nỗi tôi e rằng nhân loại có thể cãi nhau cho tới khi cái giống người bị đưa vào sách đỏ trong số các loài có nguy cơ bị mất giống vẫn còn tiếp tục cãi... Vấn đề (sic!) ở chỗ "To be" và "Not to be" không phải là hai thứ mâu thuẩn nhau như các nhà logic vẫn tưởng, có lẽ hai thứ đó cũng chỉ là hai thứ tương phản nhau thôi. Tức là cả hai không thể cùng sai nhưng có thể đều cùng đúng cả, hoặc là hai thứ không cùng đúng cả nhưng có thể cùng sai một giuộc như nhau! Bất khả tư nghì! Đọc hết bài viết rất cảm động của Khoa Chiến rồi mới thấy cái nhãn phân loại phía dưới "GIỮ CHÚT LÒNG". Chỉ có mấy chữ như vậy là quá đủ rồi Khoa Chiến ơi. Cái nhãn ấy làm mình muốn rơi nước mắt đấy!


Tôi cũng xin nói rằng anh bạn
vốn mê cái câu của Shakespeare kia
lâu nay không thấy ảnh nhắc tới câu đó nữa.
Có lẽ ảnh cũng thấy rằng không cần cái câu ấy
thì ảnh cũng tồn tại mà, có sao đâu!

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Chiều nghe đàn ở sân nhà bạn

4 giờ chiều. Ghé Kiệt.
Cái sân nhỏ, mát, yên tĩnh với vài cây hoa.
Ngồi dưới bóng râm của cây dâm bụt vàng,
cây dâu tằm ăn và cây hoa sứ.
Nắng dịu hanh.
Mùi hoa sứ thoang thoảng.
Tiếng chim nhẹ nhàng trên đầu cành.
Nghe Kiệt đàn romance interdit.
Hạnh phúc đôi khi thật đơn sơ!

Hồn thảo mộc hanh vàng trong nắng nhẹ
Gió đủ vừa lay rụng mấy đài hoa
Chim thảng thốt, tiếng đàn như nhỏ lệ
Nỗi buồn xưa còn đọng tới bây giờ!

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Bài thơ tạ lỗi


Ta viết bài thơ xin tạ lỗi
Xa chốn nào người có biết không?
Đôi tim yêu đã có lúc tương phùng
Rồi năm tháng cách chia lời yêu mãi

Ta viết bài thơ xin tạ lỗi
Gánh tình yêu đã đặt lại bên đường.
Lối đi xưa phượng đã không còn.
Khăn hồng tặng đã trả người lau khô lệ.
Con sông chảy một thời không quay lại.
Mấy dòng đời hai ngả hết tìm nhau.

Ta viết bài thơ xin tạ lỗi.
Xin lỗi cơn mưa, mưa trắng ngập trời
Đã đồng lõa để ta đưa người qua phố
Xin lỗi nắng trưa, nắng đã rạng ngời
Cho cái cớ để ta che người khỏi nắng
Xin lỗi quít thơm, phần em phân nửa
Em dùng dằng, phần của anh đâu?
Xin lỗi tiếng ve, rì rào trên ngọn
Giúp một trời lãng mạn để yêu thương.
Xin lỗi bạn bè, gán ghép với nhau
Để mắt nhìn ngay bỗng thành bối rối.
Và xin lỗi em, tình yêu không trọn
Lặng lẽ một đời, ôm cả đắng cay.

***

Tôi viết bài thơ xin tạ lỗi
Không còn mưa trắng
Hết cả nắng trưa
Tình tôi hối lỗi biết sao vừa!

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

Gởi bạn quê mình.




Mấy hôm trước đi dự một lệ giỗ, cũng là một ngày họp mặt bạn bè mái ấm Bồ Đề (Bến Tre). Trước 30/4/1975 Bồ Đề là một trường trung học thuộc giáo hội Phật giáo. Các anh chị em mái ấm Bồ Đề là các cựu học sinh của trường. Trường không còn nữa nhưng tinh thần Bồ Đề của trường thì vẫn giúp anh chị em gắn bó với nhau. Hôm thì rủ nhau lên chùa nghe thuyết pháp, hôm thì rủ nhau đi làm từ thiện, giúp đỡ nhau sống thiện sống tốt. Thời gian trôi qua có người thành đạt, có người gian truân, có người vẫn ở mãi bên dòng Hàm Luông, dưới bóng dừa, có người xa xứ. Tôi chỉ là một người lạ, chưa từng học Bồ Đề, chỉ thảng một đôi khi căng thẳng chuyện đời, chuyện công việc thì vào chùa tìm đến quì trong chánh điện, nhờ sự yên tĩnh của không gian thờ tự, nghe tiếng chuông ngân nga mà tĩnh tâm, niệm một tiếng A di đà để lòng lắng xuống... để đủ sức sống tiếp! Nhờ vậy mà quen biết với mái ấm Bồ Đề. Nhờ vậy mà có mặt trong lệ giỗ này...
Lệ giỗ thì ồn ào nhắc nhớ lại người này người kia, ai còn ai mất, ai đang xa xứ. Lại nhắc tới một người đang ở tận Hoa Kỳ. Anh bây giờ chỉ là một người làm bảo vệ, gác cổng một sân bay, lúc nào rảnh thì vác cái cưa máy đi kiếm cơm thêm. Tìm được bao nhiêu tiền thì ngoài phần dành cho mình sống khổ hạnh còn thì gởi về nước nhờ mái ấm Bồ Đề đi làm từ thiện. Cách làm của anh khiến tôi nhớ tới một ông giáo người Pháp lúc trước dạy ở Đại học sư phạm Saigon. Trước giải phóng ở Đại học sư phạm Saigon có 3 nhà giáo người Pháp, tôi chỉ nhớ tên Ông Béchir vì ông trực tiếp dạy tôi và tôi thường nói chuyện lan man với ông bằng thứ tiếng Pháp ngắt ngứ mỏi tay của tôi. Còn một bà thì tôi không nhớ tên nhưng tôi rất thích bà vì mỗi lần có chiếu phim tiếng Pháp ở giảng đường phục vụ các lớp Pháp văn thì tôi hay gặp bà để xin xem ké, lần nào thì bà cũng cười rất tươi - Oui... Oui... alors.... Nhưng tôi lại rất ấn tượng với ông, ông gì tôi quên tên rồi, thôi tôi cứ gọi là ông Thiery (mà hình như là vậy!). Ông Thiery khác hẳn các vị giáo sư khác - chẳng hạn ông Béchir lúc nào cũng đi chiếc Peugeot 404 láng bóng - quanh năm suốt tháng tôi chỉ thấy ông Thiery đi một chiếc Mobylette cà tàng dơ mốc cời và hình như ông chỉ có một bộ veste cũng hơi mốc mốc! Tụi tôi là dân sinh viên ở trong hũ ra (đó là cách nói sinh viên gốc gác ở các tỉnh... Cái tĩnh hay cái hũ gì thì cũng là một thứ đựng nước mắm thôi!) thì ăn cơm vĩa hè, cơm quán là phải rồi! Nhưng ông Thiery cũng quanh năm ăn cơm vĩa hè, quán cóc mới là chuyện kì khôi. Khẩu phần ăn của ông có khi còn tệ hơn của tôi nữa, vì sau bữa ăn có hôm tôi cũng dám tự đãi mình một ly sữa đậu nành còn ông Thiery thì lúc nào cũng chỉ một ly trà đá! Rốt cuộc có hôm ông Thiery cũng ăn trưa một bàn với tôi ở quán bà Bô. Không ngăn được tò mò tôi bèn hỏi: - Sao ông tiết kiệm vậy? Lương ông nhiều thế, tiết kiệm để làm gì? - Ô, moa tiết kiệm là để giúp đỡ đất nước! - Ơ nước Pháp giàu thế mà còn nhờ ông giúp đỡ à! - Không, moa gởi tiền về Israel để giúp đỡ. Moa người gốc Do Thái. Thật đáng nễ! Israel lúc đó mới lập quốc chưa được mấy năm, khó khăn còn trùng trùng. Có những người con như thế bảo sao Israel không dần dà trở nên hùng mạnh cho được. Bây giờ tôi lại biết một ông Thiery Việt Nam, là cái ông có bài thơ dưới đây. Anh chị em trong bàn tiệc giỗ cao hứng gọi cho anh: -Anh Hưng này, nói chuyện với anh Bình chút nghe! -Alô. Anh Hưng đó hả. Anh đang làm gì vậy. - Tôi đây. Mỗi ngày tôi gác sân bay từ 7 giờ chiều đến 7 giờ "sáng mơi". Giờ này khuya, máy bay bay đi hết rồi, chỉ có mình tôi trên sân bay thôi, ngồi một mình buồn lắm, nhớ quê lắm! - Anh chị em đang nhắc anh quá đây! - Chờ chút nghe, để tôi làm bài thơ gởi anh chị em đọc coi như tôi có mặt với mái ấm Bồ Đề nghe. Thiệt tình tôi không nghĩ anh có thể làm ngay được bài thơ. Cái không gian Mỹ 100% phần đó làm sao giúp anh tìm được ý thơ! Nhưng mọi người cũng lấy viết ra chờ anh đọc bài thơ đột xuất. Bài thơ như vầy (cái tựa là do tôi đặt).

Gởi đến bạn bè.

Bạn bè gặp nhau hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy mây trôi
Lợi danh như bóng mây trôi nổi
Có chút tình thương để lại đời
Bạn bè gặp nhau hãy mến thương
Chung trường năm cũ vẫn còn vương
Chút tình giữ mãi lòng thương ấy
Chia sẻ mọi nơi mọi nẻo đường
Bạn bè gặp nhau thì cứ cười
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui cười với ý tình cao nhã
Cuộc sống thêm vui ấy tuyệt vời
Bạn bè có chi cứ việc mời
Mận, ổi, xoài, lê vẫn còn tươi
Hoa quả thơm ngát đời thêm vị
Kết hợp ý tưởng cả mọi người.


Bài thơ mộc mạc, ý thơ chân phương, nhưng chứa biết bao nhiêu tình gởi gấm, thương quá là thương!

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

ARANJUEZ MON AMOUR



Nhạc thính phòng không phải ai cũng thích,
và cũng không dễ nghe.
Post bản nhạc này lên đây
vì một chút nhớ người bạn cũ La Tùng Sơn.
Cuộc đời chìm nổi ai biết ai giờ ở đâu,
sống chết thế nào,
chỉ vọng lại trong tâm tưởng một tiếng đàn!


Giọng ténor lừng danh Andrea Bocelli với Aranjuez ...



Paco de Lucía độc tấu cùng dàn nhạc Concerto de Aranjuez (2nd mouvement)



Richard Anthony với ca khúc ...




ARANJUEZ, MON AMOUR
Paroles: Guy Bontempelli


Mon amour, sur l'eau des fontaines, mon amour
Òu le vent les amènent, mon amour
Le soir tombé, qu'on voit flotté
Des pétales de roses

Mon amour et des murs se gercent mon amour
Au soleil au vent à l'averse et aux années qui vont passant
Depuis le matin de mai qu'ils sont venus
Et quand chantant, soudain ils ont écrit sur les murs du bout de leur fusil
De bien étranges choses

Mon amour, le rosier suit les traces, mon amour
Sur le mur et enlace, mon amour
Leurs noms gravés et chaque été
D'un beau rouge sont les roses

Mon amour, sèche les fontaines, mon amour
Au soleil au vent de la plaine et aux années qui vont passant
Depuis le matin de mai qu'il sont venus
La fleur au cœur, les pieds nus, le pas lent
Et les yeux éclairés d'un étrange sourire

Et sur ce mur lorsque le soir descend
On croirait voir des taches de sang
Ce ne sont que des roses !
Aranjuez, mon amour


Một ít về Aranjuez...

Aranjuez là một thị trấn nhỏ cách Madrid, thủ đô Tây Ban Nha, khoảng 48 km. Aranjuez được thế giới biết đến rộng rãi qua Concerto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo (1901-1999). Là một dương cầm thủ bị mù từ năm lên 3, bản concerto này của ông được viết cho guitar và dàn nhạc vào năm 1939, tại Paris, khi nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ hai đang treo lơ lửng, và được đề tặng cho ca sĩ Regino Sainz de la Maza . Concerto này gồm 3 hành âm (mouvement): Allegro con spirito, AdagioAllegro gentile. Hành âm thứ hai Adagio được biết đến rộng rãi nhất, thường được gọi là Aranjuez con tu amor (Aranjuez tình yêu của tôi), do giai điệu tha thiết, yên tĩnh và trầm lắng của nó. Đây là một concerto khá bất thường do tác giả đã đặt cây guitar solo với âm sắc ấm và nhỏ tiếng – nhưng không bị lấn át - đối thoại với dàn nhạc đầy đặn, hùng hậu gồm kèn corn Anh, bassoon, oboe, horn, violin và cello. Đó là thứ tiếng nói nội tâm sâu sắc, cá nhân giữa ồn ào bi kịch của lịch sử. Người ta tin rằng trận bom bi thảm Guernica (1937) - trận bom đã được miêu tả trong bức họa cũng nổi danh không kém "Guernica" của Picasso - đã có ảnh hưởng sâu sắc tới tác phẩm. Mặt khác người ta cũng tin rằng tác phẩm đã diễn đạt tình yêu đằm thắm trong tuần trăng mật của ông với Victoria (1st Mov: Allegro con spirito) - cũng như nỗi đau hoang vắng do mất đứa con đầu lòng (2nd Mov: Adagio) – và sau cùng đôi vợ chồng tìm thấy sự khuây khỏa sau nhiều năm dài u sầu (3rd Mov: Allegro gentile).

Các clip trên chỉ trình bày hành âm thứ hai Adagio.
Video clip đầu tiên do ca sĩ opéra mù bẩm sinh Andrea Bocelli trình bày.
Video clip thứ hai do Paco de Lucía trình bày.
Video ca khúc tiếng Pháp do Richard Anthony trình bày.

Tạm dịch ca khúc như sau:



Aranjuez tình tôi.

Tình tôi những giếng làng ta
Chiều tà gió thổi đài hoa bập bềnh
Những tường vôi nứt xinh xinh
Nắng mưa năm tháng phủ xanh hoa hồng

Một ngày họ đến
Giữa khúc quân hành
Vết đạn dị kì
Trổ trên tường xinh

Những dây hoa hồng
Bò theo vết đạn
Tên người người đã khắc
Trên những tường vây.

Tình tôi những giếng cạn khô
Nắng hanh gió thổi đồng xa lùa về
Người về một sớm tháng năm
Sáng ngời ánh mắt nụ cười
Chân trần, bước chậm, giữa tim hoa hồng

Chiều xuống tường vôi
Tưởng còn vệt máu
Chỉ là đóa hồng
Aranjuez... ơi hỡi tình tôi.


Thứ Ba, 24 tháng 11, 2009

Sợ blog

(Hay Thơ gởi chị Ngọc Hạnh)


Thế là có một cái blog tôi vẫn xem hàng ngày đóng cửa vĩnh viễn rồi! Thế giới blog cũng nhộn nhạo như cuộc đời vậy, chỉ có điều nó không có biên giới hữu hình mà thôi. Khi tôi nhờ Google dựng lên cái blog của mình thì tôi chỉ định làm một thử nghiệm. Vào thời điểm đó tôi nghiệm ra rằng - trong thế giới Internet - người ta bỏ quên những người lớn tuổi. Cũng phải thôi! Trong đời thực khi anh có tuổi, và nếu anh có một chút tinh ý, là có thể nhận ra mỗi một ngày qua cuộc đời càng lúc càng xa mình. Này nhé, hãy nhìn những dòng xe đang chạy ào ạt ngoài đường kia. Tất cả bọn họ là những người trẻ. Họ đang chồm lên trong cuộc sống. Những người lớn tuổi ở đâu hết ha? Nếu họ còn đủ sức họ đang đi chậm rãi bên lề đường kia, tập thể dục để - với một chút hy vọng tuyệt vọng - kéo dài niềm vui được sống. Này nhé, ta vào siêu thị nhé. Cặp mắt của anh phản bội anh rồi! Hàng hóa được sản xuất và được chứa trong các bao bì chữ quá nhỏ mà anh không thể nào đọc được. Thị phần của những người già nhỏ bé đến nổi các nhà sản xuất không bỏ công ra để ý đến in bao bì sao cho ông già bà lão có thể đọc được mà không cần cặp kính (lở bỏ quên ở nhà/trong xe). Vào thời điểm đó trong thế giới công nghệ thông tin người ta đang tán dương tuổi trẻ, như chính cái tuổi trẻ của công nghệ này vậy. Ví như: Người trẻ thì tiếp thu công nghệ nhanh hơn, không vất vả quên tới quên lui một thao tác "dễ òm"! Người trẻ thì hào hứng kết bạn để chat, để trưng mình ra trên các mạng xã hội, để nhí nhố chia sẻ với nhau những trải nghiệm mới mẻ của cuộc sống số. Người trẻ là thị phần khổng lồ cho các sản phẩm công nghệ thông tin. Người lớn tuổi ở đâu vào lúc đó? Họ đang e dè nhìn thứ máy móc lạ lẫm có vẻ sẽ đe dọa những thói quen sống của họ... Và tôi dựng nên cái blog của mình để nói một thứ tiếng nói khác cái đang vốn có trong cuộc sống số. Điều kì diệu là khi tôi tiếp cận với chuyện viết blog thì tôi nhận ra mấy điều sau đây:

1. Blog rất có lợi cho những người lớn tuổi: Khi ta có tuổi tác, một trong các điều đáng sợ là sự suy giảm khả năng ngôn ngữ. Số lượng từ vựng theo tuổi tác sẽ giảm nhanh. Bình quân một người chỉ dùng khoảng 800 từ trong cuộc sống của mình. Chỉ các nhà văn do phải suy nghĩ và viết nhiều mới có khả năng sử dụng đến khoảng 3000 từ. Không biết có nghiên cứu khoa học nào về số lượng từ vựng của những người lớn tuổi không nhưng tôi áng chừng - sau khi ghi thử ra giấy - người lớn tuổi chỉ sử dụng khoảng trên dưới 200 từ mà thôi. Thể hiện rõ nhất điều này là người lớn tuổi hay ngập ngừng khi phải diễn đạt các ý tưởng trừu tượng hoặc tinh tế do phải gắng nhớ lại các từ vựng liên quan. Viết blog chính là một cách để duy trì khả năng ngôn ngữ, chống lại bệnh lãng trí.

2. Sự cô đơn: Người lớn tuổi dễ rơi vào cô đơn, hầu hết bạn bè của tôi đều như thế. Con cái chúng ta đều lớn cả rồi. Chúng phải sống cuộc đời của chúng, sống với công việc của chúng, sống với cái thế giới của chúng. Chúng phải ra đi khỏi mái ấm mà ta đã vất vả cả đời xây dựng cho chúng. Như chúng ta trong quá khứ vậy, chúng phải xây dựng cái mái ấm của riêng chúng ... để đến một ngày chúng cũng sẽ cảm thấy cô đơn khi cháu chúng ta lớn lên! Khi người ta chỉ sống một mình, may mắn thì còn cái phân nửa thứ hai kề bên, suốt những ngày tháng dài vắng lặng, thậm chí có khi cả tuần/cả tháng không nói chuyện với ai trừ nói với mấy con mèo, con chó trong nhà, thì người ta mới biết thực sự thế nào là cô độc/cô đơn. Khi đó blog là một cứu cánh tốt. Gần đây tôi thấy những blog do người lớn tuổi viết ngày càng nhiều. Tôi đọc thường xuyên - có thể nói là hàng ngày - khoảng trên dưới một chục blog loại đó: Blog Have a Daily cup of Mrs. Olson của một bà tự giới thiệu đã có 5 đứa con và 6 đứa cháu ở Utah-USA; Blog của Ông già Jumarao ở Puerto Rico; Blog trước đây của chị; .v.v. những blog mà tôi chưa bao giờ nêu lên trong mục Blog thích xem... Blog giúp chúng ta duy trì được mối quan hệ của mình với cuộc đời. Hãy nghĩ xem ở đâu đó trên thế giới này vẫn còn ít nhất một người vẫn chăm chú đọc mình, nghe mình, như tôi vẫn chăm chú đọc chị hàng ngày trước đây vậy, thì mình vẫn còn thuộc về thế giới này. Những buồn, những vui, những lo lắng của mình sẽ được chia sẻ. Quan tâm làm gì tới câu chữ - mình có tính trở thành nhà văn nhà thơ quái gì đâu - hãy viết như mình sống, mình thở, mình cảm nhận cuộc sống và ... để gió cuốn đi. Đừng đóng blog của mình lại, đừng đóng các comment lại, hãy để lòng mình mở ra. Sao ta quay lưng với bạn bè vậy? Sao ta quay lưng với người ta yêu? Sao ta quay lưng với người yêu ta vậy? Hãy yêu, hãy giận, hãy ghét, nhưng đừng đóng lại cỏi lòng mình! Chị không viết cái blog đó nữa. Lí do thì đã được chị phân trần trong cái mail gần đây nhất rồi. Tôi đã có ý định post cái mail đó lên đây với tiêu đề Thư từ Paris nhưng sợ chị không bằng lòng nên thôi. Ừ thì mình viết về chuyện con cái, sự lo lắng trước khi về hưu, chuyện các bà bạn đi gym, chuyện cái tay đau, nói chung là chuyện đời thường. Được quá đi chứ. Hay chị muốn viết chuyện chính trị! Ôi giời ... bỏ quách Robert Mugabée, quăng đi Sarkozy, mặc kệ Obama hay thậm chí Ông Nguyễn Tấn Dũng đi. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào! Chuyện đó là của những người trẻ! Hãy để cho những người trẻ biết chịu trách nhiệm về tương lai. Chuyện gì thuộc phần mình trong cuộc đời mình đã làm rồi. Mình đã từng phải chịu trách nhiệm về lũ trẻ rồi. Bây giờ đến phiên chúng phải học bài học về trách nhiệm với cuộc đời, với lịch sử!


Tôi chờ xem, chờ nghe những tiếng nói từ xa xôi, vọng lại đây đó tiếng nói khẻ khàng, nhẹ nhàng, những câu chuyện của chúng ta: Buồn ... vui ... yêu ... ghét cuộc sống!

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Tuyệt cú





Thiên thu nhốt kín nỗi niềm
Đêm về bới mộng ta tìm bóng ta
Nỉ non dế dỗ trăng tà
Nghe buồn như tiếng hồn ta thở dài
......
......
TRÚC GIANG
(Trích khổ đầu bài thơ MAI VỀ của Phạm Trúc Giang )

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009

Có ai biết không?

Có lẽ đây là hai câu thơ tình đau đớn nhất! Có ai biết lai lịch hai câu này không?

Bán sinh phong cốt lăng tằng tẩm
Nhất phiến u hoài chỉ vị khanh

(Nửa đời sương gió ngang tàng
U tình một khối vì nàng đấy thôi).
Hình như có nhiều dị bản, nhưng chỉ nhớ được
như vậy không biết có đúng không?

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2009

Anh, em và thế giới.

***


Những ngày vắng em anh làm gì? Em vẫn thường hỏi như vậy mỗi khi em đi vắng hơi lâu. Thông thường thì anh sẽ làm ra vẻ hờ hững đáp: - Ờ, thì nấu hai bữa cơm. Anh ghét ăn cơm tiệm! Không có gì đáng chán và đáng sợ hơn là ngồi cô đơn trước một bữa cơm trong tiệm. Anh đã ăn quá nhiều những bữa cơm lặng lẽ giữa rất đông người như thế trong cuộc đời. Nỗi cô đơn trước bữa cơm sẽ biến thức ăn thành một thứ thuốc độc làm suy kiệt nhanh chóng trái tim của một người. Cho nên dầu thế nào thì anh cũng sẽ ráng chạy về nhà tự nấu cho mình một bữa cơm, dọn ra bàn một cách tươm tất, và tự nhủ mình đang ăn cơm trong một khung cảnh gia đình – mà thật ra giờ đây nhiều lúc chỉ có mình anh.

Anh làm gì trong một ngày dài vắng em!? Chính anh cũng ít khi để ý. Đã từ lâu anh đã đánh mất cái trước kia vốn là thói quen: lên lịch cho mọi hoạt động của mình. Gần hết một cuộc đời sống cho những tờ lịch, những kế hoạch, không chỉ lên lịch cho mình mà trước đây anh còn là người lên lịch cho nhiều người khác. Anh từng là một người có quyền lực – dù thứ quyền lực não nề đó cũng không có chi lớn lắm – và anh được quyền lên lịch cho cuộc đời nhiều người. Quyền lực đồng nghĩa với khả năng sắp xếp cuộc sống cho người khác, buộc người khác sống theo lịch trình của mình dù họ có muốn hay không. Có thể nhân danh cá nhân thần thánh hóa, biểu tượng hóa để có thứ quyền lực đó, đó là cách các vương triều vẫn làm. Có thể nhân danh số đông, nhân danh chủng tộc để làm điều đó, đó là cách để con người biện minh cho lí do nhiều cuộc chiến tranh, đó là cách quyền lực khuất phục ý chí của cá nhân và thậm chí khuất phục thân xác của tha nhân. Có thể nhân danh sự mặc khải về một sự phán xét cuối cùng, dựa trên nỗi sợ hãi về khoảng trống sau cái chết, dựa trên một lời hứa về thiên đường ở kiếp sau, một thiên đường mà không biết có ai đã tới đó chưa, vì chẳng có ai trở về để xác nhận! Đó là cách các lãnh tụ tôn giáo đáng kính đã làm. Có thể nhân danh thiên đường trần thế, ở đó rượu bia chảy như suối, thịt cá nhiều vô số, gái đẹp nõn nà, xe cộ sang trọng. Đó là cách các chú Pinokio thời thượng bị dẫn dụ vào cõi đào nguyên. Hay đơn giản hơn hết – trong trường hợp của anh chẳng hạn – nhân danh xếp trên nữa, nhân danh thế trên đe dưới búa để thực thi quyền lực, để chơi trò chơi quyền lực. Và riêng em, em nhân danh tình yêu để đòi anh nhớ đi ngủ đúng giờ - đừng có thức khuya, nhớ ăn cho hết các thứ em đã chuẩn bị sẵn trong tủ lạnh, nhớ mặc cái áo em đã ủi để sẵn, nhớ cho con cá chép trong hòn giả sơn và lũ mèo con mèo già của em ăn.
Hôm qua vắng em anh đã làm gì hả? Có một chuyện thú vị lắm, anh lang thang trên mạng, anh làm một kẻ cô đơn trên mạng, chờ coi có ai quen không cũng lang thang như mình. Không có ai cả, cái thế giới này vắng tanh, các blog quen thì có những bài cũ xì, thậm chí cái blog của cô bạn đáng yêu hôm nay cũng vĩnh viễn đóng lại các comment. Trong một web site có một cái thống kê rất ngộ nghĩnh: Top 100 most powerful people – Top 100 những kẻ quyền lực, đứng đầu là Barak Obama, rồi đến Giang Trạch Dân (Hu Jintao), rồi đến Vladimir Putin, có cả Osama Bin Laden nữa ở thứ hạng 37, và .v.v Chán! Những gương mặt đó thì có liên quan gì đến anh và em chứ. Top 100 quyền lực! Hồi năm ngoái năm kia đứng đầu chắc là Bush … bây giờ Bush về vườn rồi, cái bệnh phát ngôn trật vuột, theo tuổi già của Bush, chắc ngày càng nặng hơn! Hồi năm kia năm kìa chắc có bà đầm thép Thatcher trong danh sách. Bây giờ Thatcher chỉ là một bà già đau yếu, lãng trí, chờ tiếng gọi của thiên thu mà thôi. Em có nhớ mấy xếp của mình không? Mấy xếp đó bây giờ nằm trong lòng đất cả rồi. Đôi khi người ta tự an ủi mình: Hùm chết để da. Trời đất, một miếng da khô thì có ý nghĩa gì đối với thiên thu cát bụi! Mấy xếp thu hoạch cho mình vô số bằng khen, giấy khen. Mấy cái thứ đó bây giờ các xếp xuôi tay để lại cả rồi, chờ cho mối ăn mà thôi! À, đó là những kẻ từng có quyền sử dụng thời gian của kẻ khác, họ sống thêm bằng thời gian lẽ ra kẻ khác sống, nhưng rồi họ cũng hết thời gian. Con người là một con vật có tính xã hội, mỗi con phải tự nguyện đóng góp một phần quỹ thời gian được sống của mình vào ngân hàng thời gian – không có lời và cũng không được trả lại vốn, để cho mỗi con được cảm thấy mình là một phần của xã hội.
Anh thành một kẻ nổi loạn với thời gian rồi. Bây giờ ngồi một mình, chỉ một mình, thì thích làm gì là làm thôi, chẳng có kế hoạch gì hết!
…..
Mà thôi, hình như em chẳng thú vị gì với chuyện Obama hay Osama vớ vẩn này, anh đi xem trong tủ lạnh còn lại thứ gì đây!

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2009

dưới trăng


Ta làm đạo sĩ
Ngồi thiền dưới trăng
Trăng tà nguyệt bạch
Cõi hồn hoang mang

****

Đôi dòng bát nhã
Nhiếp lòng đa mang
Ta làm đạo sĩ
Nàng ánh trăng vàng.

****

Tu không thành đạo
Nợ trần không tan
Tay rơi tràng hạt
Không quên hồng nhan

****

Xin tu kiếp nữa
Kiếp này bỏ hoang
Xin tu kiếp nữa
Sầu tình sẽ tan .

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

Nói chuyện với ma.

Ngồi buồn nói chuyện với ma chơi.
Thơ thẩn nghe ma tỏ mấy lời.


(1)
Lão Tư hay nói chuyện với ma. Hàng xóm của lão kháo nhau như vậy để dọa mấy đứa trẻ hay vô vườn của lão hái trộm. Nhưng đó là chuyện xưa, vì bây giờ lão đã là ma rồi, không còn nghi ngờ gì nữa việc lão nói chuyện với ma.

Cục đất chỗ lão ở dễ sợ lắm. Ban đêm muốn tới nhà lão ai cũng ngại ngần. Phải đi qua một con đường nhỏ quanh co dài hụt hơi. Hai bên đường cũng có vài căn nhà nhưng do khu đất đó trước đây vốn là nghĩa địa được giải tỏa nên còn nhiều nhiều chỗ cỏ dại mọc um tùm. Cuối con đường có một cái miếu nhỏ phủ phía trước tấm màn che đỏ lòm, dòm vô trong thấy một bát nhang cắm đầy nhóc chân nhang. Trong miếu có một đôi câu đối chữ nho mà xóm giềng chẳng ai còn biết đọc, chẳng biết miếu thờ ai nhưng ai cũng e dè kẻ khuất mày khuất mặt nên nhang đèn cũng không đến nỗi hoang lạnh. Sập tối nào lão cũng ra thắp một ngọn đèn dầu tù mù đặt gần bát nhang. Trong đêm tối nhìn vô cái miếu hồng hồng mờ ảo ai cũng ớn lạnh.

Vườn của lão bắt đầu từ chỗ cái miếu cho tới bờ kinh. Căn nhà của lão ở cuối vườn, phía sau một rừng chuối xiêm và mít tố nữ. Lão sống hiu hắt với đứa con gái thất tình dở khôn dở dại. Lão lại còn cái bệnh đái tháo đường trầm kha, chân cẳng hay sưng phù nên ít muốn đi đâu. Thế giới của lão chỉ là từ cái miếu cho tới bờ kinh. Nói đáng tội, xóm giềng cũng có cho lão kéo về nhà một cái bóng điện. Lão để cái bóng đèn trắng ởn đó sáng suốt đêm mặc cho trước đây bà lão vẫn than phiền về tiền điện mỗi tháng.

Hầu như ban đêm lão không ngủ, đi đi lại lại âm thầm quanh quẩn. Một hồi thấy bóng lão bên song cửa, chút xíu lại thấy lão lặng lẽ cù rù bên vách sau, chẳng biết để làm gì! Đứa con gái đêm nào cũng mớ khóc gọi ú ớ tên tình nhân giữa tiếng ho khan sù sụ vì lạnh của lão. Ai hỏi vì sao không ngủ thì lão chỉ nói gọn tại không buồn ngủ. Mà nhân gian cũng kì, vì sao lại nói buồn ngủ? Người ta có vui, có thơ thới trong lòng thì mới ngủ ngon được. Còn như lão - trăm nỗi muộn phiền , buồn đâu từ đời ông bà ông vải truyền lại - buồn thì làm sao mà ngủ được! Không ngủ được thì làm gì trong đêm vắng đây? Không biết từ hồi nào lão lại mắc cái chứng độc thoại trong đêm. Hồi sinh thời bà lão hay càm ràm chuyện lão rù rì trong đêm nhưng từ khi bị lão quát: - Nói chuyện với cái đầu gối mà cũng bị bà cấm nữa hả! thì bà lão mặc kệ.


Đêm nay lão lại không ngủ. Lão ngồi bên cửa sổ mở ra vườn. Ngoài vườn tối om. Đêm im ắng, trừ tiếng gió chướng đi xào xạc trên ngọn cây - Để cửa mở cho mát mẻ, lão thường nói vậy. Lão thương con quá đổi, thấy con nhỏ đau khổ lão đứt từng đoạn ruột. Nhưng chuyện duyên số mà, cái dây xích thằng đâu phải muốn buộc vô ai cũng được. Mình thương người ta mà người ta không thương mình thì thôi! Đó là lão nghĩ như vậy nhưng cô con gái lại không chịu thế, bằng chứng là cô lại ú ớ nói mê kìa. Đã nói chuyện tình mà … dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng! Không biết cô nằm mơ thấy gì nhưng gương mặt của cô trong mơ nhíu lại một nét âu sầu khó tả. Cứ thức suốt như lão thì có khỏe hơn không, khỏi phải chịu đựng các giấc mơ nặng nề.
Bài này tôi viết về vài người quen.
Đoạn còn lại tôi viết vất vã quá vì tôi sợ
không khỏi xúc phạm đến người đã khuất.
Chỉ có điều tôi đã có đoạn kết như sau:
.........
Chỉ đến sáng khi con gái lão thức dậy, gọi mãi không thấy lão Tư đâu, đi ra sau nhà chỗ cái sàn nước thì thấy lão đã chết cóng ở đó từ hồi nào. Trên mặt sàn nước còn mấy cái bánh ít ướt sương đêm. Người ta nói - chẳng có ai kiểm chứng được – khi mở mấy cái bánh ít đó ra chỉ thấy toàn là đất và nước.
Dù sao tôi cũng sẽ cố gắng viết cho xong cái bi kịch còn lại,
viết cho xong cái bi kịch mà tôi đã lỡ biết và lỡ muộn phiền!
Đừng phiền nếu bạn phải chờ biết phần còn lại

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Sóng cuốn bài thơ

Cảm hoài


Gởi người tha thiết bài thơ tặng
Qua đò thơ chìm nơi nước nông
Sóng nhỏ nào ngờ đêm gió lặng
Cồn hoang đò lật ướt theo dòng.

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009

Một mình.

Em đi vắng mấy hôm sao lâu thế.
Tôi ngồi thừ, nhà trống gió mênh mang.
Bếp thiếu lửa, chén cơm tôi nuốt vội,
Đàn thì buồn uể oải chẳng nên câu.

***

Hồn chợt yếu vắng em sao lạnh quá.
Nắng ngoài hiên không đủ sưởi hồn tôi.
.....

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2009

Mượn đở câu thơ

Đêm nay lại thức cả đêm, vì cái máy tính bị virus siêu đa hình hành hạ quá nặng, đến nỗi BKAV pro phải gởi riêng Vovescanner.exe để quét sâu toàn bộ các ổ đĩa. Mỗi ổ đĩa cần quét gần 2 tiếng thế là mất gần hết đêm. Trong khi phải chờ máy quét xong để làm report online gởi BKAV - không thể để công việc lại sáng mai được vì chỉ cần tắt máy là ngày mai có khả năng phải setup lại Windows do bị đánh sập kết nối Internet - bèn đọc lăng nhăng mấy cái blog quen thuộc. Định viết một bài mà rồi chữ nghĩa đi đâu hết không biết! Quay ra lấy tập thơ của Cao Thoại Châu đọc thì thấy điều mình muốn nói, muốn viết Cao Thoại Châu đã viết rồi (Mà còn sâu sắc hơn!). Thôi mượn mấy câu của đại ca Cao Thoại Châu đặt lên đây thay cho tâm cảnh của mình vậy:


Khi không tìm thấy thư tình
Tôi ngồi ôn lại bóng hình ngày xưa
Còn nguyên không thể xóa mờ
Mới như cơn gió thoảng qua rất gần

***

Xa nhau thì đã xa rồi
Hình như cũng có hai người nợ nhau
Sông sâu mắc nợ cây cầu
Con đò nợ bến khi nào trả xong

***

Hai người cách một mùa đông
Cách nhau một bếp than hồng thế thôi
Mùa đông vừa kịp tới nơi
Lá đi trốn nợ hai người khó mang.

***

Mênh mông nối tiếp mênh mông
Cành khô củi mục một dòng về xuôi
Bên này lở, bên kia bồi
Lòng tôi cũng sụp một vài chỗ theo

***
...................



(Trích: Cách một mùa đông. Cao Thoại Châu -Tập thơ Ngựa Hồng, trang 115)


Lòng tôi cũng đang sụp một vài chỗ khó mà lấp đầy đây!

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009

Tuổi già hiu quạnh...


(Ảnh của Duy).

TẢN MẠN VỀ NỖI NHỚ

1. Có nhiều điều bình thường chẳng ai để ý gì cho đến một ngày bỗng nhớ da diết điều bình thường vắng đã lâu ấy. Một người bạn cũ chẳng hạn, đã lâu không thấy hình thấy bóng, đột nhiên một hôm giở một tờ nhạc ố vàng còn ghi nguệch ngoạc nét bút bạn chú thích trên mấy nốt nhạc, làm nhớ quá tiếng đàn của bạn. Cuộc đời có biết bao nhiêu ngả rẽ: thời cuộc, chiến tranh, miếng cơm manh áo, hoặc giả chỉ là do mê say chân trời xa lạ nào đó mà đi biệt tích. Ban đầu chỉ là nỗi nhớ một tiếng đàn rồi cái nhớ cứ rộng ra dần như một vết dầu loang trong kí ức. Nhớ guitar recital đêm nào trong một quán cà phê gần đại học xá Minh Mạng. Mỗi người trình tấu một bản, chuyên nghiệp hay tài tử chẳng luận bàn, chỉ cốt gởi cho nhau nghe một chút tình. Lại nhớ thêm dáng đi gầy gầy của bạn trên con phố vắng thơm lừng hoa dầu một đêm tháng chạp lành lạnh. Hai gã trai vừa đi vừa hát:

Tôi đi từ lúc trăng tơ,
trăng một miền hoa cỏ…
Trăng lên từ cửa ô xa vẫn chưa mờ …(1)

Thời gian sao mà nhanh thế! Đi từ cái buổi trăng tơ đó tính ra giờ đã được 38 năm. Ba mươi tám năm của đủ thứ vật đổi sao dời, lòng người điên đảo. Trong buổi chiều vắng, ngồi một mình với bản nhạc cũ trên tay, vẫn nghe vọng lại từ xa thẵm vạn ngày tiếng dây reo nức nở của bản Sầu Chopin.

2. Hà Nội lãng mạn, hẳn rồi! Người Hà Nội nào mà không nhớ những phố đêm thơm mùi hoa sữa (dù thứ cây ấy đem trồng ở miền nam thì hoa tỏa một mùi nồng không chịu nổi). Người Hà Nội nào mà không nhớ Hồ Gươm với tháp Rùa trầm mặc, nhớ hồ Bảy Mẫu mênh mang mờ trong sương sớm, nhớ những mùa rét ngồi uống một chén chè lề đường đậm ngây ngất, kề bên một ông rít một hơi cái điếu cày rồi thong thả thổi ra một bụm khói thuốc lào đặc quánh. Hà Nội khác hẳn Saigon. Saigon ồn ào náo nhiệt, rần rần, vội vã. Tưởng như Saigon không có gì để nhớ, không có gì để lắng đọng. Vậy mà có một người ở Hà Nội nhớ Saigon quá đỗi!
Tôi trốn học đi loanh quanh trong Hà Nội, ngó nghiêng hồ này cảnh nọ. Mỏi chân, thèm thuốc thì nhớ ra đã bỏ quên bật lửa ở khách sạn. Ghé một cái nhà bề ngang nhỏ xíu chưa được hai mét, cái tủ kiếng đựng hàng cũng nhỏ xíu. Sợ người ta không nghe được giọng miền nam bèn lấy phương ngữ miền bắc ra hỏi – Này, chị bán cho tôi chiếc bật lửa. Lạ chưa, chị chàng nhìn tôi rất kì lạ, nửa như tha thiết, nửa như giận dỗi, mím môi một lúc mới nói được một câu: - Anh nói cái hột quẹt đi, em tặng anh hai cái liền! Ơ … đặc sệt giọng nam bộ! Cặp mắt của chị chàng long lanh chờ đợi: - Nói đi anh, nói cái hột quẹt đi! – Thì … bán cho tui cái hột quẹt! Trời ơi, một giọt nước mắt ứa ra, kèm theo hai cái hột quẹt đặt lên tủ kiếng là một giọng lí nhí thủ thỉ: - Em nhớ ở trỏng quá! Hồi đó em ở gần chợ Cầu Ông Lãnh! – Không về thăm nhà à! – Em theo chồng, chưa có tiền, mười mấy năm rồi chưa về.

Sầu tha hương nào mà không kèm theo nỗi nhớ, có khi chỉ là bắt đầu từ hai tiếng “hột quẹt”!



(1) Lời bài hát trong trường ca "Con đường cái quan" của nhạc sĩ Phạm Duy.

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2009

Đò ngang

(1)

Bến tre từng có bao nhiêu bến đò? Ai mà biết hết! Sông nước mênh mông, gió sông lồng lộng. Bước lên một chuyến đò. Qua sông!

Cả nhà chèo đò, ông ngoại chèo, cậu dì và mẹ đều chèo. Làm cái nghề khốn khó đưa người qua sông. Thiệt ra nhà cũng không có lấy một chiếc đò! Chỉ là chèo ăn công mỗi ngày. Hôm nào không chèo đò thì … làm nghề hạ bạc, chèo một chiếc ghe nhỏ đi câu đi lưới dài dài dọc sông Bến Tre sống qua ngày! Vài ba đêm chủ đò cho phép chèo lấy riêng một đêm. Đêm nào thu được vài cắc là sướng lắm! Nỗi niềm sông nước đã ăn vào da vào thịt, vào gien đến nỗi lâu lâu lại nằm mơ thấy ngồi trên đò đi qua con sông tối om.

Từ thời chỗ bến sông này còn vắng vẻ, khách muốn qua sông phải đứng bên kia bờ sông hú một tiếng dài rồi kêu bớ đò. Nhiều đêm khuya khoắc ông ngoại đang ngủ ngon giấc lật đật choàng dậy quơ vội cái mái dầm, lay cậu Sáu:
- Dậy .. dậy! Ai kêu đò. Chậc … không biết ai bệnh hoạn đẻ đái gì đây! Dậy … dậy làm phước đi Sáu.
Cậu Sáu mê ngủ bị ông ngoại đạp vô mông một cái, chiếc ghe lúc lắc nhịp sóng vỗ oạp oạp vô lườn ghe. Đêm tối thui. Bờ sông nhấp nháy vô số đom đóm. Gió đêm thổi vù vù trên mặt sông. Cứ ngó cái bóng đèn bão treo ở cầu đò bờ bên kia mà chèo riết tới. Trời ơi đất hỡi! Chỉ có hai má con mê coi hát - vãn tuồng rồi còn đi chơi khuya – “dờ này mới dìa!”. Cầm mấy cắc bạc trả công đò trong tay mà tức anh ách. Buộc đò lại vô sào rồi lo ngủ tiếp. Chút nữa canh tư là người ta bắt đầu đi chợ sớm rồi. Ngủ nghê gì được nữa!

Thời thế đổi thay. Giặc giã ì đùng. Tây bắn cháy rụi cả xóm Cái Cối mà cũng không bỏ được cái bến đò. Chèo đò tới chết! Hồi ông ngoại mất thì mẹ con đang ở tuốt trong Đầm Dơi - Cà Mau. Về chịu tang thì ông ngoại đã được an táng rồi. Hai mẹ con chỉ còn ra đứng nhìn bến đò rưng rưng. Bà con kể lại rằng hôm đưa ông ngoại đi ngang bến đò, chiếc ghe chở linh cửu cứ xoay vòng trước bến, mấy ông thanh niên có xeo cạy mái dầm gì thì cũng không được. Rốt cuộc phải tấp vô bến để ông thầy chùa đọc hai thời kinh siêu độ thì ông ngoại mới chịu đi! Sau này cứ mỗi lần nhìn cái xoáy nước xoay tròn lợn quợn dưới cân cầu đò mà tưởng như ông ngoại vẫn còn vương vấn đâu đó trên bến sông này!

Ông ngoại mất. Bà ngoại cũng dẹp xề chuối chiên ở bến đò về ngồi buồn trên chiếc chỏng tre trước hiên nhà, năm khi mười họa mới bó được một cái chổi tàu cau gởi qua chợ bán. Con cháu trôi dạt tứ tán! Thôi chèo đò!

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

RU TÌNH RỒI THÔI

Thơ tình tôi dạo mấy câu
Để ru tình cũ, để sầu tinh khôi.

Tặng B.N.

Lỗi hẹn

Ta đi khỏi không nói câu hò hẹn
Người buồn ư, ta đâu muốn người buồn
Rồi sẽ quên, sẽ quen ngày hờ hửng
Ta phương xa, người thương nhớ mất công.

***

Ta đi khỏi, gói lòng ta vết xước
Ngoài sông mưa thuyền gió lạnh chiều thu
Người về đi, đừng để phấn hương nhòa
Thêm chiếc áo, để cho lòng khỏi ướt.

Không về

Thuyền ta nào có rượu nồng.
Mấy câu thơ ướt, một vầng trăng suông
Bến kia giờ chắc mưa tuôn.
Sợ người gió lạnh lụa chùng dáng tơ?
Đành thôi sóng cuốn bài thơ
Đành thôi tơ quấn trăng mơ trả người
Thuyền ta một kiếp chơi vơi
Cồn hoang bèo dạt gió khơi hởi người.

Chiều đi qua cầu Cá lóc

Cầu này cá lóc phải không?
Cá đâu không thấy một dòng buồn tênh!
Ta về ngang cổng nhà ai
Sợ không dám liếc, sợ mai mềm lòng!

***

Cầu này cá lóc phải không?
Ta như con cá ở trong ao rồi
Sông ơi sông chảy đi thôi.
Chim bay mõi vết, bồi hồi thấy đâu…

Rồi thôi bến đò Cái cối.
(Để nhớ P. )

Rồi thôi xa một bến sông
Đò ngang rồi lỡ, rồi ai theo chồng
Đò tôi tách bến trống không
Đêm đêm chờ tiếng thinh không gọi đò!

Rồi thôi nước chãy xuôi dòng
Áo xưa thôi trắng, mây hồng thôi bay
Bây giờ cầu mới đã xây
Bắc chi mấy nhịp, ai đi hởi cầu!

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Còn làm được gì khi về hưu?

Khi đã nhận quyết định nghỉ hưu tức là xã hội nói với mình: - Thôi đủ rồi! Vất vả mấy chục năm như vậy là được rồi! Đi ... đi chỗ khác chơi đi!

... Thì đi chỗ khác! Nhưng nhiều người về hưu buồn lắm, còn muốn làm nhiều việc lắm. Cảm giác đáng sợ nhất của lắm người về hưu là đột nhiên thấy mình bị dẹp qua bên lề cuộc sống: Đôi chân của mình không còn đủ vững chắc để chạy theo dòng đời chăng? Trí tuệ của mình không còn đủ mẫn tiệp để góp ý với kẻ chợ chăng? Mắt mình không còn đủ tinh nhanh để ngó, nhìn, thấy chuyện đời rối rắm chăng? Tai mình đã nghểnh ngãng không còn nghe tiếng đời chăng? Nam mô quán-thế-âm Bồ tát! Người chẳng vẫn còn nghe-tiếng-đời đó ư!? Sờ lên mái tóc ... Á! mây trắng trong tay đây này!

Thôi kiếm chuyện gì làm đi. Lại góp mình vào cuộc trần ai này đi! Buồn vui cho đủ, cho đầy một kiếp người đi... Người đẹp U60 của mình nghĩ như vậy đó, và nàng lúi húi với những sản phẩm mới của mình! Không góp cho đời trí tuệ nữa thì góp chút bàn tay. Xem này, đây là các sản phẩm thủ công mới của nàng - phần bán phần tặng. A lô! Mại dô.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009

Sương lạnh

Hàn lộ đã mấy hôm,
Sáng nay sương đầy vườn.





















Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

Hạnh phúc - rất đơn giản!

Gần đây có ba việc thú vị:

Thứ nhất, có một giấc mơ được sống lại tuổi hoa niên. Lâu lắm rồi luôn sống với những trăn trở của đủ thứ chuyện không mấy vui, không nhận ra mình bị cằn cỗi. Sự cằn cỗi đó thể hiện ở chỗ không thể đàn được nữa. Đôi khi cũng lôi cây đàn ra .... để đàn, nhưng không còn cảm xúc nên một hồi là chán, lại cất cây đàn vô. Cái thời mà mình có thể rơi nước mắt khi nghe Aranjuez hay Pavana chìm đâu mất. Cái thời nghe Khúc tháng 6 trong Tẩu khúc 4 mùa của Tchaikovski hay nghe Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước với sự rung động lạ thường đã tắt ngấm hồi nào không hay. Bỗng một đêm nghe trong mơ Khúc hát thanh xuân! Bỗng sống lại! Máu lại chảy êm ái trong tim. Hồn lại "dào dạt" yêu thương ...


***


Thứ hai, đờn hát om sòm với một ông bạn mới quen - một đám bạn mới quen mới đúng! Lâu quá rồi không được đàn hát một cách vô tư lự như vậy. Ngồi ở một cái quán khuya - khá xa làng xóm để không thể làm phiền những người có thể thích yên tỉnh. Ngồi giữa những người già - đúng là những người già vì trong bàn có bấy nhiêu người thì trừ mình ra thì đều thuộc type đã về hưu hoặc ngoài 60. Ông bạn mới quen có bàn tay bị cụt hết mấy ngón mà vẫn say sưa đàn. Ông bạn này đệm slow rock, rumba và pasodoble thiệt là điệu nghệ. Tới phiên mình đệm đàn thì ông bạn hát. Không thể tưởng tượng có người còn thuộc nhiều bài tình ca của những năm 50, 60 như vậy. Và cũng khó tưởng tượng những người già lại hát tình ca một cách say đắm như vậy:

Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi gió
Trút tâm tư vào đêm vắng canh dài...

Không thể tưởng tượng ông bạn này, ban ngày dang nắng chạy một chiếc xe cà tàng đi rao bán bánh bao khắp hang cùng ngỏ hẽm Bến Tre, mà đêm nay hóa thân thành một nghệ sĩ sống đầy cảm xúc như thế. Và tuyệt hơn nữa, hát những bài hát tiếng Pháp với một giọng chuẩn không chê vào đâu được. Ngày xưa ông giáo Béchir - chánh gốc dân đảo Corse - đọc "dictée" cho mình viết cũng không chuẩn hơn:

Mal. Au fond du coeur. Oui j'ai mal.
Mal. Toute la vie me fait mal. De temps en temps.
Quand je regarde le soleil. Qui vole. Qui vole...

Và bà vợ già tóc bạc của ông bạn thì nhìn chồng mình một cách trìu mến, say đắm. Ô hay, sao mình được một cơ duyên sống giữa một trời hạnh phúc như thế!?

***


Thứ ba, ngày hôm nay - như tình cờ - lang thang vào blog của một cô bé. Mình vốn có thành kiến với những blog của các nhí vì chúng nhảm nhí quá! Đặc biệt khi mình đặt blog bên Yahoo 360 độ thì thật là khủng khiếp với cách viết của tuổi teen. Chán đến nổi vội vàng gở bỏ cái blog đó để khỏi bị comment linh tinh bằng một thứ ngôn ngữ mà Nguyễn Du đọc phải chỉ có nước tự vẫn! Nhưng blog của cô bé này - đơn giản mà tinh tế - đọc rất thú vị. Đọc để thấy cuộc sống còn những điều rất đáng yêu, để mình học lại cách giản lược suy nghĩ, để học lại cách sống đơn giản, yêu những điều đơn giản. Trẻ trung, tinh tế và đơn giản, đó không phải cũng là một thứ hạnh phúc sao?!

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2009

Qua chiều nắng xế, chút cảm xúc.


Khi chiều nắng xế! Đã đầy một ngày những vui buồn.
Có biết bao nhiêu trăn trở vào cuối ngày,
có biết bao nhiêu tình không biết đền đáp vào đâu !
Ta đành làm người đứng bên hàng giậu:


Người về người đứng bên hàng giậu
Thanh thản cho lòng không ngả nghiêng


Có thể là hàng giậu mồng tơi
mà đứng bên đó Nguyễn Bính từng cảm thấy
cô đơn lắm của một chuyện tình mơ hồ
mà ám ảnh sâu sắc. Hay có thể đó là
hàng giậu - rào chắn mà cuộc đời dựng nên
để kẻ sĩ phải đặt cho mình một câu hỏi lớn về lẽ xuất xử!
Cho nên lòng người nào biết:

Người về không biết sầu đá dựng
Ta chênh vênh trên vách núi lưng chừng

Để cho người muôn đời như nước sông:

Ừ nhỉ nước sông hiền dịu quá
Ngọt ngào như tiếng thời xưa
Là cái thuở ta buồn bã lắm
Phên liếp đời cho những cánh thư

May thay Cao Thoại Châu đã viết dùm tôi điều còn lại,
điều quan trọng khi người đứng lại bên này hàng giậu:

Núi vô tình núi cũng rung rinh

Thương lắm bài thơ "Bên hàng giậu"

Cao Thoại Châu

Bên hàng giậu

Người về người đứng bên hàng giậu
Thanh thản cho lòng không ngả nghiêng
Mái tóc cũng vờn trong nắng sớm
Gió chưa quen vì mới vượt đại ngàn

***

Ta đã đi qua chiều nắng xế
Phên liếp gì đâu cũng chẳng còn
Bực mình vì thấy đời hiu quạnh
Lao mình xuống tắm một dòng sông

***

Ừ nhỉ nước sông hiền dịu quá
Ngọt ngào như tiếng thời xưa
Là cái thuở ta buồn bã lắm
Phên liếp đời cho những cánh thư

***

Người về người đứng bên hàng giậu
Chia buổi chiều mỗi nửa một bên
Và bên ấy nắng vàng rực rỡ
Một nửa tối dần theo bóng đêm

***

Ta làm con gà lên chuồng rất sớm
Sau một ngày bươi đất lang thang
Từ vườn này sang vườn nhà khác
Vườn rộng mà ta chỉ có một mình

***

Người về người đứng bên hàng giậu
Bốn bề êm ả một bình minh
Trong ký ức tiếng gà báo sáng
Lặng im không biết lúc khởi hành!

***

Người về không biết sầu đá dựng
Ta chênh vênh trên vách núi lưng chừng
Nhìn xuống thấy mờ thung lũng
Núi vô tình núi cũng rung rinh

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2009

Như đờn đứt dây.


Bình nằm yên học bài, chữ nghĩa nhảy múa trước mắt, đầu óc lơ mơ. Trừ củ khoai mì khô còn chừa lại nửa để trên cái dĩa ở góc bàn dành cho buổi chiều, hôm nay chẳng có gì khác cho vào bụng. Còn hai ngày nữa người ta mới trả lương. Làm gia sư cho một đứa nhỏ mỗi tháng cũng có ít tiền độ nhật nhưng tháng này phải mua mấy cuốn sách nên hụt ít ngày. Chịu khó uống nước phông tên và ăn khoai mì đỡ vài hôm vậy. Bình mồ côi cha nên mẹ gởi ở nhà Bác đi học, được có chỗ ở là quí lắm, không dám đòi hỏi gì hơn. Bác đang độ làm ăn thất bát, nợ giăng tứ tung, mấy hôm nay lánh nợ đi đâu không biết! Các anh chị con Bác chạy về Bình Dương ở với Bác gái. Hủ gạo trong nhà cũng trống trơn. Con hẻm nhỏ hôm nay chộn rộn. Người ta chạy vô chạy ra lo lắng. Bà Sáu hàng xóm mấy hôm nay yếu lắm, đổ cháo không chạy nữa rồi. Không biết Bà đi chừng nào! Thôi, không học bài nữa, chạy qua xem sao.
Chị Nỉ ở nhà Bà Sáu khóc ri rỉ. Bình đứng xem tần ngần. Bà Sáu nằm trên giường mê thiếp. Chị Nỉ ngồi dưới chân giường nước mắt ràn rụa mếu máo:
- Má ơi … má đừng chết má ơi! Má nói cho con biết con là con của ai? Má ơi …
Anh chồng chị Nỉ kéo chị ra:
- Thôi để cho Má yên.
Chị Nỉ ghì lại cái chân giường, gục xuống. Mọi người chung quanh đột nhiên lặng trang. Ai cũng biết chị Nỉ là con nuôi của Bà Sáu. Bà đem chị Nỉ ở đâu về khi chị còn đỏ hỏn. Chỉ có Bà mới biết chị Nỉ là con của ai. Đến ông Sáu cũng còn không biết. Cạy miệng Bà ra thì Bà cũng không nói. Chỉ có một lần Bà suýt tiết lộ. Đó là lần chị Nỉ giận dỗi nói xúc phạm Bà:
- Má ác lắm! Thà Má đừng nuôi con, để cho cái người sanh con ra bóp mũi con chết hồi mới sanh cho rồi. Má dưỡng dục con làm chi mà không cho con biết cội nguồn! Má ác lắm!
Bà Sáu cũng quơ tay giận dữ:
- Tao mà ác à? Biết mà chi à? Tao mà ác à? Không có tao thì …
Nhưng rồi Bà im lặng nuốt cái cục giận xuống, hạ cánh tay xuống, rơi hai giọt nước mắt, nhìn im lặng chị Nỉ hồi lâu. Cuối cùng Bà nói xụi lơ đủ cho chị Nỉ và đám hàng xóm tò mò đang dỏng tai nghe:
- Thôi, chừng nào gần chết tao nói cho nghe ba má bây là ai …
Bây giờ, Bà nằm đó á khẩu, mê man.


***

Rồi Bà Sáu ra đi! Để lại câu hỏi của Chị Nỉ treo lên trời xanh không bao giờ có câu trả lời. Cái hẻm nhỏ lại trở về sinh hoạt thường nhật. Mỗi sáng ông Sáu lại đẩy cái xe bánh mì ra đầu ngõ, chồng chị Nỉ nửa ngày đến trường đại học luật … để lấy cái giấy hoãn dịch trốn lính, nửa ngày còn lại đẩy chiếc xe xích lô chạy suốt đến tối mịt mới về. Bình vẫn đi học và lâu lâu bị đói vài ba bữa. Hôm nào may mắn thì có chị Nỉ kêu:
- Nè ra đây. Hổm rày đói hả …
Rồi chị đưa cho cái cà-mên cơm có cái dĩa cá hủng hỉnh kho tiêu và chén canh bầu. Trời, ngon ác! Chị ngồi đó chờ cho Bình ăn trong im lặng. Lần nào cũng vậy, chờ xong hết cái cà-mên là chị nhắc lại:
- Thôi, để chị đem về rửa. Lo đi học đi. Để bụng đói vô trường học sao được!
Chỉ có vậy thôi. Bình cũng không muốn nhắc tới nỗi đau của chị làm gì. Có giải quyết được cái gì đâu. Cuộc sống còn phải lo nhiều thứ khác nữa. Những nỗi đau cũng phải gác lại để lo cho cái bao tử đừng kêu gào, để cho có thể sống qua cái thời buổi chiến tranh sống nay chết mai này.
Chuyện hợp tan của cuộc sống biết đâu mà lường! Rồi Bình xin vào đại học xá. Cuộc sống đỡ hơn nhiều vì học bổng mỗi tháng được ba ngàn mà cơm đại học xá thì chỉ có 600 đồng/tháng. Buổi cơm không ngon lành gì, mâm cơm 4 đứa sinh viên chỉ có một dĩa cá kho có hai con cá nhỏ như hai ngón tay và một tô canh toàn quốc lần nào chan tới đáy cũng thấy một hai con sâu trắng ởn chết chìm còng queo. Thây kệ, cũng là chất đạm thôi! Bình cũng không quên chị Nỉ, nhưng chỉ nhớ lại những khi buồn buồn hoặc lại bị đói. Những khi đó lại tự nhủ: Vái trời có cái bà nào giống bà Nỉ sống gần đây thì đở ngặt… Nhưng cũng bị đói hoài. Không phải tại làm biếng làm nhác gì mà bị đói. Những năm 79, 80 cả nước đói thì có tài thánh mới không bị đói. Có khi đi làm vài tháng mà không có lương, cũng không có gạo, chỉ được lĩnh mỗi tháng có vài ki lô cao lương. Suốt mấy tháng liền chỉ ăn cao lương, khoai mì và rau muống riết thèm cơm thấy sợ. Đến nỗi có bửa đi ngang qua sau nhà ai có mùi cơm mới nấu bay ra, muốn đi qua cho lẹ mà hai đầu gối cứ run lên bần bật không cách gì kềm chế nỗi, muốn sụm xuống tại chỗ. Phải dùng hết ý chí mới bước đi khỏi chỗ đó được. Lại nhớ chị Nỉ!
Chuyện hợp tan của cuộc sống biết đâu mà lường! Ba mươi năm sau. Đã thành ông giáo già. Có một đứa học trò ốm nhom, hiền thì hiền lắm mà học dở quá trời. Dạy bên lỗ tai bên này thì hình như thẳng một đường mà qua lỗ tai bên kia chạy tọt ra ngoài, chẳng có nhớ được cái gì! Tức mình, tới nhà nó xem sao, tiện thể mắng vốn luôn cái đứa chậm lụt quá thì làm sao tốt nghiệp phổ thông cho nổi. Nhà nó ở cuối một con hẻm ngoằn ngoèo đi muốn hụt hơi. Cái nhà rệu rạo, ngó lên nóc thấy đủ mây trắng trời xanh nhưng nhìn xuống đất thì thấy đen ngòm nền đất lục cục lòn hòn, chuột đào lỗ chỗ. Ngồi chổng mông thổi phù phù vào ông táo khói lá dừa mù mịt cay xè mắt là một bà lão tóc bạc xác xơ. Cái nồi cơm đen thui móp xọp đang sôi lục sục. Nó giới thiệu ông giáo với bà lão: Thày con đó ngoại. Bà lão ngước đôi mắt mờ đục nhìn ông giáo hồi lâu rồi chậm rãi chống tay vào đầu gối khom khom đứng dậy: Thày con hả… ơ … tôi lúc này đau đầu gối quá … ơ … mời thày ngồi. Ngồi ở đâu bây giờ? Có một cái ghế đẩu nhưng có vẻ mục rồi, ngồi lên đó dám té chỏng gọng, thôi ngồi ké bên cái giường có chiếc chiếu mục mốc mốc. Tôi tới thăm bà, tiện thể xem thằng Hoàng nó học hành ra sao, ông giáo nói vậy nhưng có lẽ không cần hỏi nữa vì chỉ nhìn là đủ biết hết rồi. Những lời mắng vốn để dành sẳn cũng bay đi đâu hết rồi! Nó học làm sao hả thày? Bà lão hỏi. Dạ, nó học … cũng được, ông giáo trả lời. Cũng được … cũng được … vang vang bên tai ông giáo. Cũng được là làm sao? là làm sao? là làm sao? Cái câu hỏi ở đâu vọng rền trong đầu ông giáo. Để bà già này buồn thì có ích gì … vì bả chắc buồn hết chỗ buồn rồi. Ông giáo ngồi im lặng ngó ra ngoài cửa nhà, nhìn theo con bướm cải vàng vàng bay chập chờn trên cái bông chuối đỏ hực đã bị sâu ăn te tua mấy đài hoa.
Bà lão nói một cách ngập ngừng khó khăn: Má nó dại khờ nên nó vậy đó thày giáo. Bà lão lại cuối xuống, chép miệng, buông hai chữ: Bạc phước! Rồi thôi, lại yên lặng rất lâu như cố nuốt cho trôi hai tiếng bạc phước. Nhướng cặp mặt mờ quay tìm quanh quất bà lão tìm kiếm cái bóng ngồi co ro sau cái lu nước ở mái hiên. Nảy giờ ông giáo không để ý thấy người ngồi đó. Là một người đàn bà áo xống thâm kim tơi tả, vá chằng vá đụp! Thằng Hoàng ngập ngừng: Má con đó thày. Bà lão bỗng giận dữ: Con tôi nó điên điên khùng khùng dở dở ương ương. Đi lang thang bị người ta hại nên mới có cái thằng Hoàng này! Càng nói bà càng cao giọng, thở gấp gáp. Không hiểu sao ông giáo lại tò mò: Vậy ba nó? Thằng Hoàng hoảng hốt ngó ông giáo. Bào lão quơ cánh tay mơ hồ trong không gian. Người đàn bà bỗng cười ngu ngơ. Bà lão nói như miết qua kẽ răng: Không biết, biết làm chi nữa! Biết mà chi…? Thời gian bỗng ngưng đọng lại. Bà Sáu ba mươi năm trước và bà lão này nhập vào nhau trong một cõi mông lung. Ông giáo đắng lòng: Có một Bà Sáu ở đây nữa rồi!
Thằng Hoàng thi tốt nghiệp vừa đủ điểm. Nó chẳng mong ước thi vào đại học cao đẳng gì hết, lo chạy lên Saigon làm công học việc kiếm sống. Mấy năm liền chẳng thấy nó về, cũng không tin tức gì. Cũng không biết bà lão và đứa con gái-đàn bà ngây dại đó bây giờ ra sao. Cái hẻm sâu hút đã được qui hoạch thành con đường lớn, đi ngang chỉ còn thấy một vạt đất dài trống hoác, những người ở đó bây giờ tứ tán còn biết đâu mà tìm!
Đi vắng lâu thế nhưng rồi thằng Hoàng cũng trở lại ghé thăm ông giáo. Vẫn ốm tong teo như xưa nhưng bây giờ nó có chiếc Wave alpha cà tàng. Để chạy giao hàng cho chủ thôi, nó nói vậy. Bà ngoại con mất rồi, Má con cũng mất rồi, nó nói thêm. Vậy là thằng Hoàng thành một đứa bơ vơ vật vờ. Con muốn kiếm Ba con, nó nói sau một hồi mím chặt môi. Ông giáo ngó thằng nhỏ lom lom, nhìn sâu vào cặp mắt long lanh của nó, vái trời nó đừng khóc. Nó không khóc thật. Những con người này đã hết nước mắt rồi!...
- Ừ! Con biết chút gì về Ba con không? Bà ngoại có nói cho con biết Ba con là ai không? Ba con ra làm sao?
- Bà ngoại con không nói, bà nói hồi đó ba con không nhận con vậy con biết làm chi?
- Vậy biết đâu mà tìm!
- Con hỏi mấy người ở trại cưa hồi xưa má con hay ghé. Má đi hốt mạt cưa ….
- Ai biết!?
- Người ta không biết chắc nhưng hồi đó làm thợ ở đó chỉ có mấy người!
- Mấy người.
- Dạ bảy người!
Trời đất ơi! Một người là đã khó lắm rồi. Tới bảy người lận ha? Ông giáo than thầm trong bụng. Biết ai trong cái đám đàn ông trời đánh thánh đâm làm công ở đó, cái đám đàn ông gạo chợ nước sông, nay người này mai người khác với một cô gái ngây dại thần kinh!
- Con có hỏi rồi. Trừ ông già Bảy thợ mộc ra còn sáu người. Trừ 5 ông làm công khuân vác đàng hoàng ra còn ….
Không biết tại sao nó lập luận như vậy được kìa, làm sao ai biết ai đàng hoàng kìa, mà nó hỏi ai vậy kìa!? Ông giáo ngồi lặng thinh quên hết cảnh vật xung quanh đến nỗi một con kiến vàng từ nhánh cây rớt xuống vai bò lên mặt cắn một phát vào khóe mắt chảy nước mắt ràn rụa mới tỉnh ra.
- Ừ! Thày với con đi tìm hỏi ba con vậy. Mà biết nhà ở đâu không?!
- Dạ biết!
- !?
- Con có tới mà cái bà ở nhà đó dữ quá con không dám hỏi! Thày giúp con…
Thế là hôm sau ông giáo chở thằng nhỏ đi tìm cha. Đường xa quá, chạy lòng vòng trong vườn dừa đi lạc mấy chập, phải chạy trở ra hỏi lại rồi mới trở vào. Gần tới nơi thằng nhỏ sợ bèn nói ông giáo cho nó xuống ngồi ở cái quán cóc bên đường. Một mình ông giáo dò hỏi tới nhà người ta. Là một cái nhà gạch không lớn và có vẻ bừa bãi. Lạch bạch đi ra ngó khách là một bà, nói đúng hơn là một con mẹ có cái mặt rất đanh, thảo nào thằng nhỏ không sợ sao được! Hôm trước nó gặp con mẹ này đây. Nó hỏi tên Tám Gà là con mẻ trợn mắt ngắm nghía nó từ đầu tới chân. Không biết thằng nhỏ có vẻ gì giống với thằng cha Tám Gà đó không mà con mẻ sau khi quan sát kỹ lưởng bèn nạt đùa một hơi:
- Hỏi làm gì? Không có thằng chả ở nhà? Cả ngày nhậu nhẹt không? Không biết!
Thằng nhỏ hết hồn không dám nói thêm tiếng nào, đi về luôn.
Ông giáo lấy giọng từ tốn:
- Chào bà!
- Hỏi ai? Chuyện gì?
Con mẹ này ăn nói trổng không, khó đây! Ông giáo nhủ thầm như vậy.
- Bà cho tôi hỏi thăm chú Tám.
- Ông là ai vậy? Đâu có quen!
- Tôi quen với ông chủ trại mộc hồi xưa chú Tám làm ở đó…
Ông giáo nói đại vậy chớ có quen với ông chủ trại cưa hồi nào đâu. Hy vọng con mẹ này đừng hỏi tới thì hư chuyện! Trại cưa mà nói lộn thành trại mộc…
- Ông chủ trại cưa nhờ tôi gởi lời thăm chú Tám…
- Không có ở nhà, đi làm vườn rồi.
- Chú Tám đang làm ở đâu hả bà? Tôi gặp chú được không? Đi ngã nào hả bà?
- Đường vườn lòng vòng lắm.
- ?
- Ra đầu đường, chỗ cái quán người ta chỉ cho!
Chưa gì là đuổi mình rồi, không cho khách uống một chén trà nguội nữa, tệ quá! Ông giáo quay xe trở ra cái quán. Thấy ông giáo đi ra thằng nhỏ đang ngồi rầu rĩ tươi ngay nét mặt:
- Làm sao hả thầy?
- Chưa được gì! Để hỏi tiếp.
Thằng Hoàng giống như trái banh bị xì hơi, cái mặt thành méo sẹo. Kêu ly trà đá uống cho đỡ khát rồi nhẫn nha hỏi chủ quán về Tám Gà. Té ra thằng cha này hồi xưa mê đá gà, thua xiểng liểng nợ tứ giăng, còn thêm cái tội trai gái lung tung, bị con vợ còng đầu về quê, oánh lộn một trận dữ dội rồi không cho đi đâu nữa. Tám Gà đang làm cỏ mướn ở xóm trên. Để thằng Hoàng ngồi đó, ông giáo lội bộ băng vườn qua xóm trên. Tám Gà đang làm cỏ. Để coi cái con mắt, cái mũi, cái miệng …có chỗ nào giống với thằng Hoàng không? Hơi giống … mà cũng không giống lắm! Ông giáo băn khoăn, tần ngần.
Tám Gà đang lom khom kéo cỏ thấy ông giáo thì ngạc nhiên:
- Ông là ai vậy? Kiếm ai vậy?
- Chú Tám phải không?
- Thì .. tui. Hỏi tui hả?
- Dạ. Có chút việc! Nghỉ tay cho tôi hỏi chút được không chú Tám?
Hỏi thăm vòng vo chuyện ở trại cưa một hồi rồi ông giáo mới vô đề:
- Chú có mấy đứa con?
- Ba đứa.
- Ở đây hết hả? Có đứa nào gả cưới xa không?
- Không, ở gần đây hết. Gả cưới gì đâu. Đi theo đập dập thì có!
Tám Gà đột nhiên ngồi xê ra, ngó ông giáo cảnh giác. Ông giáo nửa đùa nửa thật:
- Có gởi cho bà nào đứa nào nữa hông đó!?
Tám Gà hấp háy con mắt, ngó quanh quất, nhăn mặt.
- Tôi nói nghiêm chỉnh đó chú, chú thương cho!
Tám Gà cúi xuống, bậm bặm môi, quay mặt chỗ khác, đổ quạu:
- Đừng giỡn.
- Thì tôi có giỡn đâu. Tôi cất công đi xuống tới đây gặp chú đâu để giỡn!
- Không phải con tui!
- Ai không phải con chú? Tôi đã nói gì đâu.
- Không chắc con tui.
- Ai không chắc con chú?
- Hôm trước có đứa xuống đây rồi. Tui đã nói hỏng phải!
Vậy là con mẹ kia đã truy vấn Tám Gà rồi chắc, thằng cha này có vẻ sợ vợ.
- Thì tôi đã nói gì chú đâu. Tôi chỉ hỏi thử vậy thôi.
- Không chắc không thử gì hết. Tôi không nhận. Nhiều thằng cũng làm ở đó mà…

Ông giáo ngồi yên nhìn Tám Gà. Ông ngờ rằng cách đây hơn hai mươi năm bà lão kia cũng nghe cùng câu từ chối đó. Nói gì nữa đây? Không, không cần phải nói gì thêm! Tám Gà bực bội cầm con dao cùn chặt bụp xuống đất làm cọng cỏ đứt gốc bay văng xuống mương.

Ông giáo trở ra dắt thằng Hoàng về. Ông cũng phải nói lại cái câu ông từng thấy sợ kia: Không biết, biết làm chi nữa! Biết mà chi…?


***

Có một dịp ông giáo đi Saigon. Bà Nỉ bây giờ có một cái quán cơm bình dân. Ghé ăn mười ngàn một dĩa cơm. Trả tiền đàng hoàng chớ không ăn “cơm chùa” như hồi nẵm nữa. Vừa ăn chậm rãi vừa kể câu chuyện thằng Hoàng cho Bà Nỉ nghe. Bà Nỉ nghe với cặp mắt ráo hoảnh. Nghe xong bà Nỉ chỉ chép miệng đọc câu ca dao:
Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây.


Bến tre, 30/9/2009.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2009

BÃO VÀ LO BÃO

Mấy hôm nay mỗi ngày đều năm sáu lần đọc tin bão. Từ lúc cơn bão Ketsana hình thành ở phía đông Philippine đến khi nó đổ bộ vào Quảng Nam và tàn phá nặng nề Philippine, Việt Nam và Kampuchia. Nhớ lại cơn bão số 9 tiếp sau cơn bão Xangsane cách đây mấy năm đổ bộ vào Bến Tre. Trước đó, sau cơn bão Xangsane mấy ngày mình đi ngang Đà Nẳng, thấy sức tàn phá của bão còn để lại ở các căn nhà tan hoang dọc bờ biển và trên các cành cây to xoắn gãy gục dọc theo đường tàu trên đèo Hải Vân là đủ sợ. Lúc bão số 9 đổ bộ vào Bến Tre mình đang ở Hà Nội, ở nhà chỉ còn mỗi một mình bà xã. Mặc dù 6 giờ chiều hôm trước đã điện thoại về nhắc bà xã chuẩn bị chống bão mà sáng hôm đó - khi mọi liên lạc điện thoại có dây và di động với thị xã Bến Tre đều bị cắt đứt - thì tim mình như bị ai bóp nghẹt. Một nỗi lo lắng hướng về quê dừa chiếm hết tâm trí khiến mình không còn nghe gì được các thảo luận trong hội nghị. Bỏ ngang hội nghị ra cái nhà dân kế bên để ngồi "chầu" trước TV xem tin bão suốt từ sáng đến chiều. Nhờ vậy mới hiểu tâm trạng của các anh em ở miền trung mỗi năm khi bão tấn công khúc ruột miền Trung.


Từ đó mỗi năm đến mùa bão là hôm nào cũng phải xem qua ít lắm một lần trang http://www.tropicalstormrisk.com/
để biết đường đi của bão. Hình trên đây là mình save lại từ web site đó khi bão Ketsana đã tiến sát vào Đà Nẳng hôm 29/9/2009.



Bây giờ lại lo mấy cơn bão đang hình thành ngoài khơi phía đông Philippine. Hình bên đây là mình mới save lại cách đây 1 giờ. Theo dự báo mấy cơn bão này là siêu bão. Mong cho không lặp lại một cơn bão đã tàn phá Bến Tre mấy năm về trước.

(Bài này viết lúc 19:00 ngày 30/9/2009)

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

TIẾNG CỦA ĐÊM ĐEN

Hay thức đêm ngủ ngày. Không tốt cho sức khỏe chút nào nhưng lỡ quen rồi. Vả chăng ban ngày thì không làm gì được ngoại trừ ra ngoài vườn vì trong nhà nóng quá. Cái nhà cất đã lâu từ hồi còn bao cấp phải đi xin-mua từng cục gạch từng bao xi măng với hàng tá con dấu. Nhớ lần chở 250 cục gạch ki ca ki cóp mua được ở công-ty-vật-liệu-xây-dựng-xăng-dầu-chất-đốt chở về ngang qua cái cống bể bị rớt xuống cống hết 2 viên gạch vậy mà dám nhảy xuống cống mò cho ra hai viên gạch đem về cho được! Vật liệu xây nhà khó khăn như thế nên cái nhà cất thấp tè. Hồi đó thì thấy như vậy là được. Được quá đi chớ, bởi vì 10 năm ở nhà tập thể hai vợ chồng hai đứa con chỉ vỏn vẹn có 12 mét vuông chui ra chui vào... được cái nhà riêng dù nhỏ tẹo cũng thấy sướng như được lên thiên đàng! Cái nhà thấp tè đầy kỉ niệm bây giờ mỗi trưa là nóng hầm hập, ngồi trong đó thì không thể suy nghĩ gì được ráo, chỉ có nước trốn xuống cái bếp mới xây mát hơn một chút để ... ngủ mà thôi! Mọi việc phải thức đêm để làm: soạn bài, đọc sách, viết lách, ... đều làm ban đêm.
Ban đêm yên tĩnh và mát mẻ. Nhờ thức đêm như thế nên có thể nghe thấy nhiều tiếng thì thầm mà ban ngày không thể nào nghe được. Không quen nghe tiếng của đêm đen thì nhiều người thấy sợ. Cô em vợ ở thành phố hôm đến chơi chỉ nghe tiếng của con vạc sành ken két trong đêm là sợ đến chết khiếp không thể nào ngủ được! Này nhé đầu hôm có tiếng của mấy con dế rỉ rả đều đều. Hôm nào trời mưa còn nghe tiếng của lũ ếch nhái ngắt ngang ... ngắt ngang hoặc uềnh oang om sòm. Nếu hôm sau trời nắng thì khoảng 10 giờ đêm có thể nghe tiếng của mấy con vạc sành ken két ngoài hàng rào. Gần nửa đêm còn nghe tiếng của con cú hay đậu bên cây dừa nhà anh hàng xóm kêu ảo não rất chi ... rờn rợn. Tiếng cú rúc trong đêm là thứ tiếng khó chịu nhất, nghe như tiếng gọi âm hồn. Cũng gần nửa đêm đôi khi rất buồn, nhất là vào tháng gió chướng, theo gió đôi khi có thể nghe thấy tiếng trống đưa linh thùng .. thùng ... thùng từng ba nhịp một vọng lại xa xăm từ nghĩa trang. Vậy là ai đó đang được đưa tiễn về nơi cát bụi. Mỗi lần nghe như thế mình không thể không niệm Phật ... để cầu siêu cho người ... mà có lẽ cũng để an tâm cho mình. Những đêm mưa cũng gần nửa đêm có thể nghe thấy tiếng của các bắp chuối hột nở. Thứ tiếng này nghe không quen ... có thể xỉu! Quá nửa đêm một chút hay nghe tiếng gà gáy. Vậy là đã sang ngày mới! Giữa sự tàn lụi của một ngày và sự sinh thành một ngày mới chỉ cách nhau một tiếng tíc tắc khẽ khàng của cái đồng hồ trên tường. Ba giờ sáng thì nghe tiếng chiếc camionette của anh tài xế gần nhà nổ máy đi thành phố. Đó là thứ tiếng nhân tạo báo cho mình biết loài người hãy còn sống và còn chạy tới chạy lui trong cái cuộc đời rất chi là nhộn nhạo này. Có một thứ tiếng mà chỉ mỗi người mới tự nghe được, đó là tiếng của nhịp tim của chính mình, đó là bản nhạc du dương nhất phát ra từ cái đồng hồ "xịn" nhất mỗi người chỉ được phát cho có một cái. Đối với mỗi người đó là bản nhạc bất tận ... không ai từng biết bản nhạc ấy chấm dứt khi nào! Bốn giờ sáng lại nghe tiếng gà gáy ... nếu bước ra ngoài sân có thể thấy các búp hoa bắt đầu nở. Năm giờ sáng là nghe lũ chim ríu rít trong cây me sau nhà. Ngày mới tinh khôi lại bắt đầu.
Trong đêm đen có nhiều thứ tiếng, nói cho cùng đó là tiếng của cuộc sống không hề ngưng nghỉ. Khó chịu, dễ chịu, êm ái hay đáng sợ đều là tiếng đời. Là thứ tiếng để báo hiệu cho cái gì đang lụi tàn hay cái gì đang nảy nở. Mình nghe tiếng đêm đã quen đến nỗi có hôm vắng thứ tiếng nào có khi còn lấy làm lạ thắc mắc tại sao không nghe. Trong đêm đang nghe tiếng mấy con dế rỉ rả hay mấy con nhái rền rỉ bỗng thấy im bặt, mờ sáng không nghe lũ chim lại tự nhủ có con rắn hay con gì đó đang đe dọa lũ dế, lũ cóc nhái hay lũ chim. Ờ nhỉ ... chẳng khi nào người ta nghe tiếng của lũ rắn! Chừng nào cái nhà của mình mát mẻ hơn một chút, ít ngột ngạt hơn một chút, chắc mình không nghe tiếng của đêm nữa ....


Chợt nhớ ra Bác Dương Sinh có chép cho mình bài thơ của Bạch Cư Dị rất hay:

Đêm nghe tiếng côn trùng

Trùng đông kêu não hơn thu
Người vô tư mấy nghe ru cũng sầu
Ta già nghe chẳng sao đâu
Trẻ trung nghe khéo bạc đầu như chơi

Lại cảm ơn Bác Dương Sinh lần nữa!

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2009

SỐNG LẠI TUỔI HOA

Đêm qua trong mơ, thấy mình sống giữa không gian không quen không lạ. Không quen vì trong đời thực hình như mình chưa tới bao giờ, không lạ vì cảm thấy rất gần gủi. Một căn nhà của ai đó, không biết có quen không, thế nhưng vẫn nói chuyện như đã từng thân ái lắm. Đó chỉ là một căn nhà nhỏ có vẻ thanh bạch. Hình như mình đang xay bột, hình như trong góc bếp có cô gái đang làm bánh. Không biết có phải nàng không. Chỉ thấy thoáng qua nụ cười mơ hồ của cô gái. Không hiểu sao lại thấy mình đang hát một cách hồn nhiên. Hình như đang tuổi đôi mươi, hình như tràn trề nhựa sống, hình như ngoài sân nắng vàng, hình như mưa nhẹ, hình như tràn ngập yêu thương.

Thức giấc rồi mà cảm giác được sống lại còn kéo dài, vẫn còn nghe lời bài hát vọng về từ trong tâm tưởng. Có ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sông? Có ai sống được hai lần của cùng một thời khoảng? Xin cảm ơn tác giả bài hát. Âm nhạc thật là kì diệu. Âm nhạc là nghệ thuật của thời gian. Âm nhạc đã làm sống lại quá khứ và cho mình sống lại trong kỷ niệm như thế đó.





ONE DAY WHEN WE WERE YOUNG

From the operetta "Gypsy Baron"
(Composed by: Johann Strauß
Adapted by: Dimitri Tiomkin for the film "The Great Waltz"
English lyrics for the film by: Oscar Hammerstein)

One day when we were young
That wonderful morning in May
You told me you loved me
When we were young one day

Sweet songs of spring were sung
And music was never so gay
You told me you loved me
When we were young one day

You told me you loved me
And held me close to your heart
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to part

When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day

We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to par-art
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day...
Ngày ấy khi Xuân ra đời một trời bình minh có lũ chim vui. Có lứa đôi, yêu nhau rồi, hẹn rằng còn mãi không nguôi. Nhạc lắng hương xuân bồi hồi như vì tình ai tiếng hát lên ngôi. Nói với nhau, yêu nhau rồi, một ngày còn mới tươi môi. Rồi nắm tay cùng nói vui những câu êm êm không rời vai. Rồi lả lơi, hình dáng ai khuất xa biến vào nẻo khơi. Từ đó khi xuân tái hồi cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi. Nhớ tới câu thương yêu người một ngày tuổi mới đôi mươi.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

NGỰA HỒNG, CHÀO ĐẠI CA.

Với thế giới thơ văn tôi là kẻ ngoại đạo dù đôi khi cũng rắp ranh viết lăng nhăng vài thứ “đở buồn”. Là kẻ không hiểu mấy về thơ, lại càng mù tịt về các trào lưu văn học nghệ thuật hoặc các lí luận về nghệ thuật! Nói khác hơn tôi chỉ là một người thưởng thức vẻ đẹp của thơ văn trong cái cảm xúc tự nhiên, ban sơ mà chẳng bận tâm mấy tới lí luận. Như vậy chắc có đôi phần hạn chế khi phải phân tích cái hay cái đẹp nơi chỗ tác giả đã dụng công tinh tế, nhưng bù lại có lẽ đỡ phải vướng víu những lối mòn tư duy, đỡ phải ám ảnh sắc tướng làm méo mó hiện thực, đỡ phải lấy bụng ta suy ra bụng người. Thấy thích thì nói thích, không thích thì cứ để qua một bên, để cảm xúc của mình chảy cùng nhịp với nhạc điệu thơ, tứ thơ, sống với hình ảnh thơ! Như người nhà quê kia xem cải lương tới chỗ mùi mẫn thì khóc cười với nhân vật, theo Lục Vân Tiên tới chỗ Ông quán thì cùng ghét yêu những nỗi đời, theo Kiều tới chỗ Từ Hải chết đứng thì cũng “đứng tim” rồi kêu lên một tiếng: Trời ơi!

Thơ Đường, lục bát, thơ mới, hài cú, thơ thời nào… chẳng quan trọng gì nhiều miễn là để cái tâm của mình đồng điệu với cái tâm của người thơ. Người viết cho tôi đọc, tôi xem, tôi nghe và tôi cảm được thì tôi nhớ, tôi mượn cái phần hồn đó để tôi sống tiếp với người, để hồn người sống tiếp trong tôi còn bằng không thì … xin lỗi các tác giả, có khi tôi cũng không buồn nhớ tôi đã đọc cái gì nữa! Cái để lại trong tôi sau khi đọc một câu thơ, một bài thơ, một tập thơ là một cảm xúc, một thấu cảm do thơ mang lại. Cái nào gây cho mình cảm xúc thì nhớ rất lâu – thậm chí đến nỗi có đêm chợt thức giấc lại lẩm bẩm một câu nào đó, của ai đó, mới đọc hồi sáng thấy “cảm” quá. Còn cái nào chẳng gây cảm giác gì thì … có ráng nhớ được vài hôm rồi cũng ớn nhợn trợn trạo mà ói ra khỏi đầu thôi!

Xin như vậy, để nói câu chuyện NGỰA HỒNG!

Một cơ duyên ngộ nghỉnh làm tôi đến gần nhà thơ Cao Thoại Châu bằng mấy câu:

CÁNH CỬA DUNG NHAN

Và lại gặp một dung nhan mới
Mới đến xao lòng, không phải một dung nhan
Là ánh sáng buổi tàn đông loáng thoáng
Khoác lên thân như tấm áo ngự hàn

Khoác vào cho vơi bớt hoang mang
Những hoa tuyết và cành phong lá rụng
Bên lò sưởi chiếc ghế còn để trống
Vội vã quay về quên hết hành trang

Suốt đời tôi chỉ những vội vàng
Những dung nhan cũng vì tôi lớn vội
Hoa cỏ từ những miền xa tới
Sợ tôi buồn cũng vội lớn cho nhanh

Như thế đấy thứ gì cũng gấp
Ngày của tôi chỉ sáng lúc lên đèn
Mỗi giấc ngủ đến như lời tự nhủ
Mất mát những gì thế cũng thành quen

Ngày ra đi em đánh rơi một chút
Một chút gì tập mãi không quên
Cũng có thể chỉ như chiếc bóng
Mà bao năm xao xuyến mãi trong lòng

Bước chân về hãy như chiếc lá
Điều chưa kinh ngạc thế bao giờ
Và hãy nói như một người xa lạ
Chỉ vô tình lạc bước đi qua

Tôi tự gánh cho mình nhiều thứ
Áp thấp về mang những cơn mưa
Những ngày nắng chói chang đổ lửa
Bao cơn buồn lên trắng cả trang thơ

Chỉ một lần không thể vượt qua
Em để lại bức tường thành sừng sững
Linh hồn tôi lúc bấy giờ rất mỏng
Nếu vô tình có thể lẫn trong sương…..
…..

Bài thơ này tôi đọc lần đầu tiên từ Blog của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Có tám khổ thơ thì đến bảy khổ đầu tiên cảm thì có cảm mà không hiểu mấy. Là dân lập trình máy tính, đầu óc đầy những mệnh đề toán học và cấu trúc tư duy kiểu nhị nguyên luận thì thật là khổ sở để thưởng thức hai câu:

Và lại gặp một dung nhan mới
Mới đến xao lòng, không phải một dung nhan

Hai câu mở đầu này ngay tức khắc đã buộc người đọc - trong khi vẫn trong vòng sắc tướng - phải rủ bỏ thế giới sắc tướng, nhập vào cõi bất khả tư nghì, dĩ tâm truyền tâm. Dĩ nhiên Cao Thoại Châu không định nói gì Phật pháp ở đây, thậm chí xa lạ với Phật pháp, chỉ là do tôi nghĩ vậy. Vậy thì thôi, tôi cứ để Cao Thoại Châu dùng nhạc điệu thơ dẫn hồn tôi theo cho đến hai câu cuối:

Linh hồn tôi lúc bấy giờ rất mỏng
Nếu vô tình có thể lẫn trong sương…..

Ô hay, do cách nào đó tôi cảm thấy mình rất gần với màn sương mong manh để có thể tới với Cao Thoại Châu. Không cần phải phân tích. Phân tích sao cho được để thấy “Linh hồn tôi lúc bấy giờ rất mỏng”?! Thật tệ lắm nếu tôi là một kẻ vô tình! Phản ứng đầu tiên của tôi là comment ngay vào blog đó:

"Linh hồn tôi lúc bấy giờ rất mỏng
Nếu vô tình có thể lẫn trong sương".
Ôi ông Cao Thoại Châu ơi! Ông là ai vậy. Ông có cho phép "tại hạ" được làm quen với ông không. …

Như vậy đó … và tôi biết ông. Một sự biết muộn màng và đáng tiếc vì khi đó ông đã là nhà thơ “lão thành”. Thôi đành tự an ủi mình: Thơ thật là thơ đâu có tuổi!

Cho đến một ngày được nhà thơ trao tặng Rạng đông một ngày vô định. Lần đầu tiên trong đời được tặng một tập thơ! Tập thơ thì mỏng nhưng cầm trên tay tưởng như cầm một cõi đời, cõi người nặng trĩu. Biết có giữ nổi trên tay?

Hãy đọc:

Ngựa hồng

Lao về phía trước tung bốn vó
Bụi hồng bỏ lại phía sau lưng
Vun vút vó câu qua cửa sổ
Đo bao giờ hết khoảng hư không

Mà hư không dài đến vô cùng
Hốt hoảng những đêm rừng bão lá
Thảng thốt nghe tiếng ghềnh thác đổ
Chất cơn buồn trên lưng ngựa hoang

Trong đam mê biết bao điều không tưởng
Khơi bếp hồng cho ấm buổi vào đông
Cơn gió núi bao lần qua kẽm trống
Thoát về đồng lãng đãng trên sông.

Ta về đây không kịp vui buồn
Và phải về trước cả thời gian
Thơ ta đấy, món quà trân trọng
Trân trọng về, mệt lả dưới chân em.

Và ta về trân trọng vết thương
Vết của một đời ưa chạy nhảy
Quà trời cho xin em nhận lấy
Nhận lấy và không hỏi gì thêm.

(Rạng đông một ngày vô định. Trang 59,60)

Ta về đây, không kịp vui buồn
Và phải về trước cả thời gian


Gấp gáp nào trong đời để câu thơ cần tới bến đợi trước cả thời gian. Gấp gấp nào để người uống cho kịp cạn giọt cuối cùng của chén đắng. Chỉ có ngựa hồng mới kịp đưa người tới với tôi, mới kịp chở tất cả vui buồn trao cho tôi.

Thơ ta đấy, món quà trân trọng
Trân trọng về, mệt lả dưới chân em.
…..
….
Quà trời cho xin em nhận lấy
Nhận lấy và không hỏi gì thêm.

Quả thực từ đó tôi đã đọc thơ của ông với thái độ "nhận lấy và không hỏi gì thêm".


Đinh Thị Thu Vân giới thiệu Cao Thoại Châu trong Rạng đông một ngày vô định như người “không quen vui” . Lời giới thiệu đó có thể gây ngộ nhận Cao Thoại Châu là người yếm thế, bi quan, người mang trên vai mình nỗi buồn đi khắp cùng cõi thơ. Không phải thế! Người “không quen vui” mà sau này tôi biết hóa ra là người yêu tha thiết cuộc sống, và sẳn sàng dâng cho cuộc sống cả xác thân của mình. Tôi đã đọc nhiều nhật kí của ông dưới dạng “Chào ngày mới” hoặc các bài viết về nhân tình thế sự đăng báo, người “không quen vui” này chỉ không vui với những chuyện không vui của cuộc đời mà người đã trải. Mà những chuyện như thế thì đầy rẩy trong cuộc sống này! Chuyện không vui thì làm sao mà vui được. Người “không quen vui” sống thật và đầy đủ với mình trong từng phút giây của cuộc sống. Cao Thoại Châu chắc chưa hề để ý tới Phật pháp, chưa từng để chiêm nghiệm sắc không và hư huyễn hiện hình vào câu thơ của mình như gần hết các nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam khác (Xin lỗi Cao Thoại Châu nếu tôi có tùy tiện gán ép chỗ này cho ông, đơn giản có thể chỉ vì tôi chưa đọc hết toàn bộ các tác phẩm và bài viết của ông), nhưng bù lại thái độ hiện sinh đó trong cuộc sống rất rõ trong:

Trên thuyền tôi em có nghe không
Tiếng đời vỗ đục trong róc rách
Em có thấy ngọn đèn chài trên nước
Thả đi tìm những kiếp lưu vong


(Đêm mơ trên sông Vàm Cỏ - Rạng đông một ngày vô định. Trang 22,23)


Sống và nghe tiếng đời trong mỗi phút giây, đó là Cao Thoại Châu. Sống và thấy thế gian như nó vốn như vậy, không huyễn hoặc mình trong bất kì hình ảnh nào, đó là Cao Thoại Châu:

Trăng đêm nay đâu phải trăng Tiền Đường
Lẽ giản dị đây là sông Vàm Cỏ
Đời còn thiếu của em nhiều món nợ
Tiếng thơ buồn tôi thả trôi sông


(Đêm mơ trên sông Vàm Cỏ - Rạng đông một ngày vô định. Trang 22,23)

Hoặc:

Và ta lại ra đi
Không phải đi dưới trời sương gió
Những thứ ấy làm gì ta có
Dành cho anh hùng hảo hán mà thôi
Còn ta đi có nghĩa là ngồi
Trên chiếc ghế xe đò xe buýt
Cạnh những người đàn bà đi hàng chạy chợ
…..

(Vô định hình – Ngựa hồng . Trang 8,9)


Cái thấy không hư huyễn đó nhiều khi đáng sợ. Thơ vốn hay huyễn hoặc, lung linh nhưng trong cái lung linh mơ hồ sương khói đầy chất ẩn dụ của thơ ông lại rất thật của hiện thực

Trên bờ cây cối vẫn còn đây
Mỗi chiếc lá rơi một lần ly biệt
Theo chân lá em cũng bay đi mất
Cây một mình trơ trụi giữa trời không

Đứng một mình nhìn xuống dòng sông
Tôi nào thấy thứ gì ngoài nước
Tấm chài rộng ai tung lên rất đẹp
Sẽ rất buồn vì chẳng được gì đâu!


(Trên đôi bờ cây cối vẫn còn đây. Ngựa hồng. Trang 53)

Và cả cái trăn trở những lựa chọn ngập ngừng trên Con đường đau khổ. Để tới được hoa hồng phải bước qua gai, một sự hiện thực nội tâm đầy sống động:

Ta đang vướng phải chân mình
Liêu xiêu những bước gập ghềnh khó đi
Những ngày dài, những đêm khuya
Bờ hoang bến lạ nẻo về còn xa.

(Vu vơ một hồi âm. Ngựa hồng. Trang 12,13)

Đến nổi rồi có khi:

Tôi lấy hồn tôi làm miếng vá
Trăm năm nguyên vẹn trái tim người

(Hoa cỏ tương tư. Ngựa hồng. Trang 29)

Và lại ra đi:

Không phải kiếm một nửa nào chi hết
Trong những thứ bày ra trên mặt đất
Ta đi kiếm mình, kiếm mỗi một ta thôi!
(Vô định hình. Ngựa hồng. Trang 8,9)

Mười năm mọi sự đều nghi vấn
Cả vầng trăng không đáng để tôi tin
Rất im lặng chỗ ta ngồi năm ấy
Trăng thì hiền nhưng rất khéo ngụy trang.
Về đây có thể sẽ đi tìm
Nghi vấn về điều gọi là hạnh phúc
Nơi tạm trú của người yên ổn nhất
Tôi yên lòng, cứ thế lại lang thang!

(Vầng trăng nghi vấn. Ngựa hồng. Trang 14,15)

Không phải câu thơ nào của ông cũng làm tôi thích! Có những câu thơ làm tôi choáng:

Cuối cùng chỉ có tiên sinh
Nhân gian đông đúc mà không có người
Mộ ông họ đã xây rồi
Bít bùng ông khóc ông cười được không?


(Chuồn chuồn châu chấu vẫn bay. Ngựa hồng. Trang 6,7)

Giả sử Bùi Giáng có đọc được mấy câu đó thì Bùi Giáng sẽ nên cười hay khóc. Hay là Bùi Giáng mếu máo vì mắc kẹt giữa cõi thị phi và hư vô không lối thoát!
Hay:

Chao ôi, loài người sao đông đúc quá
Còn ép ta cho đến khi nào
Chờ tới lúc cuộc đời ta méo mó
Mới tha cho về làm chính ta sao


(Ký họa tự vẽ. Ngựa hồng. Trang 47)
Con người yêu tha thiết cuộc sống đó, thậm chí là “ham sống” hóa ra giận cuộc đời đến thế sao!? Tôi cũng là một trong số loài người đông đúc đó. Biết đâu bằng bài viết này tôi cũng là kẻ ép ông thành ra méo mó. Cho nên đáng sợ thay khi nghe … Cao Thoại Châu trách:

Mang thơ ra đứng giữa trời
Khư khư chỉ sợ đánh rơi câu nào
Cõi người sầu đã lên cao
Sợ vô tình rớt thơ vào tay ai.


(Có người làm thất tán thơ ta. Ngựa hồng. Trang 36,37)

Than ơi, có người xưa đã não nề:

Nhị cú tam niên đắc
Ngâm thành giang lệ lưu
Tri âm như bất thưởng
Qui ngọa cố sơn thu

(Ba năm làm được hai câu
Ngâm lên lã chã hai hàng lệ rơi
Như bằng bạn chẳng hiểu lời
Thu về núi cũ nằm chơi cũng đành)

(Giả Đảo)

Ông thì chắc không có ngọn núi thu nào năm xưa để về rồi, cùng lắm là:

Nửa đêm ta đứng gọi đò
Thất thanh lạc giọng khi giờ đã khuya
Chuyến xe chót đã quay về
Trống trơn chẳng có lời thề năm xưa

Thì thôi, nếu tôi không là kẻ tiếp được hồn thơ của ông, xin cho tôi được như:

Tàu đi qua sóng đánh vào bờ
Em đánh vào hồn tôi khi em tới
Con tàu sinh ra để không ở lại
Mặc kệ đôi bờ bọt nước đang tan

(Trên đôi bờ cây cối vẫn còn đây. Ngựa hồng. Trang 52,53)

Tập thơ Ngựa hồng có điều kì lạ là không có bài Ngựa hồng. Nhưng có sao đâu! Cho tới nay toàn bộ đời thơ của Cao Thoại Châu đã là ngựa hồng. Vậy thì tôi xin nhận lấy:

NGỰA HỒNG, CHÀO ĐẠI CA!

Và không hỏi gì thêm.